“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [Kết] - Việt Mỹ News -->

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

“Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [Kết]



“Bước ngoặt địa phương”

Khao khát muốn đồng nhất [mình] với các tập đoàn chính trị địa phương và dùng các văn bản để kiến tạo một cảm quan về tầm quan trọng cho khu vực này ở một bộ phận của giới tinh hoa người Việt thời trung đại cũng được phản chiếu trong nhiều khu vực của đế chế Trung Hoa ở hầu như cùng thời điểm. Các học giả của thời nhà Tống đã cho rằng sự biến đổi chủ yếu xảy ra trong giai đoạn này là giới tinh hoa chuyển sự tập trung từ địa hạt quốc gia sang phạm vi địa phương riêng của họ. Đặc biệt hơn nữa, khi quyền kiểm soát chính trị của đế chế bắt đầu phân rã trong thời Đường mạt, và các phần phía Bắc của đế chế bị mất ở thời Tống, giới trí thức tập trung nhiều hơn vào việc củng cố địa vị của mình trong các vũ đài địa phương họ hơn là tập trung tìm kiếm quyền lực ở kinh đô. Trải qua thời gian, “bước ngoặt địa phương” này, như nó thường được mệnh danh, sau đó tự bộc lộ bằng những cách thức khác nhau, từ các chiến lược hôn nhân đến một hứng thú học thuật tăng cao đối với các khu vực địa phương(87). Nói khác đi, những sự đổi thay về xã hội của giai đoạn này cung cấp một nền tảng hoàn hảo cho sự xây dựng những truyền thống được kiến tạo.

Trong khi Đồng bằng sông Hồng có sự khác biệt vào giai đoạn này ở chỗ nó đã trở nên tự chủ thoát khỏi sự cai trị trực tiếp của Trung Hoa, người ta có thể cho rằng đây là một “bước ngoặt địa phương” đáng so sánh với những thay đổi tương tự trong sự quan tâm của giới tinh hoa ở các khu vực khác của đề chế Trung Hoa lúc bấy giờ. Chẳng hạn, ở thế kỉ X, tiếp sau sự sụp đổ của nhà Đường, một học giả có tên là Đỗ Quang Đình soạn một tuyển tập các truyện chí quái về vùng Tứ Xuyên. Công trình này thực hiện một chức năng rất giống với Liệt truyện ở chỗ nó “thuần hóa” các câu chuyện chí quái từ khu vực này và ở quá trình đưa ra một cảm quan về sự gắn kết với khu vực(88). Hơn nữa, giống như (những) soạn giả của Liệt truyện, Đỗ Quang Đình dựa nhiều vào các nguồn tư liệu hiện còn [lúc bấy giờ] để soạn văn bản của ông. Vì vậy, không những Liệt truyện không phải là một ghi chép các câu chuyện truyền miệng lưu truyền qua các thế kỉ, mà nó cũng không thuần nhất ở chỗ có các vẳn bản Hán cổ khác được soạn trong hầu như cùng thời gian và được sáng tác theo cùng kiểu và vì cùng mục đích.

Thêm nữa, đã xuất hiện những người nhóm người khác cũng hướng đến cùng một luồng thông tin giống như các học giả Việt Nam để kiến tạo cảm quan của riêng họ về một bản sắc địa phương. Những người mà ngày nay chúng ta nhắc đến như là những người Quảng Đông chẳng hạn cũng đã tham dự vào nhiều động thái văn chương tương tự như người Việt Nam và ở hầu như cùng thời điểm. Giống như người Việt, người Quảng Đông cũng tự gọi họ là Việt/Yue. Ngày nay, một chữ khác được dùng để thể hiện người Việt/Yue Quảng Đông, [đó là [粵]]. Tuy nhiên, trong quá khứ, chữ này được dùng thông nhau với chữ đồng âm mà ngày nay dùng đặc chỉ người Viêt [tức là 越]. Cũng giống như người Việt, có những học giả Quảng Đông đã trông vào các nguồn tư liệu Trung Hoa sớm hơn để tìm kiếm thông tin lịch sử về tộc Việt/Yue, trong đó nó được viết với chữ “粵” hoặc “越”.

Một ví dụ về hiện tượng này là cuốn Bách Việt tiên hiền chí của Âu Đại Nhâm. Một người bản xứ tại Quảng Đông là Âu Đại Nhậm đã sưu tầm các thông tin lịch sử về nhiều thành viên khác nhau của Bách Việt, những người mà ông cho là “đáng kính trọng” [hiền]. Phần lớn những người có mặt trong cuốn sách này đều sống ở khu vực Quảng Đông ngày nay, nhưng cũng có những người không sống ở đó. Trong số đó có Sĩ Nhiếp, một Thái thú người Trung Hoa đã cai trị Bắc Việt Nam vào thế kỉ III sau CN và là người mà Ngô Sĩ Liên tôn xưng là “vương” trong Toàn thư vì những đóng góp của ông cho khu vực này, đặc biệt là những nỗ lực được ghi nhận của ông trong việc dạy chữ Hán cổ [cho người Việt](89).

Một ví dụ khác về một văn bản xuất xứ từ Quảng Đông có dùng một số chất liệu cùng nguồn như người Việt từng dùng là cuốn Quảng Đông tân ngữ của Khuất Đại Quân (1630 – 1696). Công trình này là một cuốn “loại thư” bao hàm nhiều chủ đề được viết từ lâu bởi hoặc người Trung Hoa từ thiên niên kỉ đầu trước CN cho đến ít nhất là thời Tống, hoặc bởi một người Quảng Đông sau đó. Một chủ đề có liên quan đến những phụ nữ Việt/Yue. Ở đây, Quảng Đông tân ngữ thừa nhận rằng chị em bà Trưng là những người phụ nữ Việt đầu tiên nổi tiếng, nhưng cho rằng điều đó phụ thuộc vào sự mới mẻ của việc họ đã “tiếm” vương hiệu cho riêng mình, một việc mà những người phụ nữ khác chưa từng làm trước đó. Rồi nó tiếp tục đề cập đến Bà Triệu, một chiến binh nữ của thế kỉ III, sống ở một nơi nào đó trong khu vực ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam và là người đã cưỡi voi ra trận với hai vú dài vắt qua vai. Tuy nhiên, Quảng Đông tân ngữ bàn luận sơ sài về bà khi đơn thuần [coi bà] chỉ như một “tên cướp dũng cảm”(90).

Thừa nhận nhưng lại hạ thấp vai trò quan trọng của những người phụ nữ đó, những người là trung tâm của lịch sử Việt Nam ngày nay, sau đó Quảng Đông tân ngữ tiếp tục cho rằng có những người phụ nữ Việt/Yue ở khu vực này trong quá khứ còn nổi tiếng hơn họ, ví như hai người con gái của tộc Tiễn ở Quảng Đông. Một trong hai người này xuất hiện trước hai bà Trưng và đã bảo vệ vùng đất này trước các “tù trưởng dân man” [man tù] trong thời đại hỗn loạn sau sự sụp đổ của nhà Tần vào năm 206 trước CN(91). Tộc Tiễn này là một gia tộc mà Phùng Áng có quan hệ hôn nhân. Nếu chúng ta nhắc lại, thì ông là người được đề cập ở trên, người ở cuối triều Tuỳ được những tòng thuộc của mình ủng hộ việc thiết lập một vương quốc và tôn xưng ông là “Nam Việt vương”. Nếu Phùng Áng làm như vậy, và vương quốc của ông duy trì được sự tự trị đủ dài khỏi sự cai trị của Trung Hoa, thì có lẽ ngày nay đã có 2 nước Việt/Yue độc lập, vì ở thời trung đại các đồng bằng như Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Li là khá tương đồng. Ở cả hai khu vực đều có một giới tinh hoa Hán hoá nhỏ bé đang nỗ lực tạo ra một cảm quan về bản sắc địa phương, tức là, một cảm quan về việc mình “là người Việt/Yue”. Và cả hai đã làm như vậy bằng cùng một cách, sử dụng các thông tin từ các nguồn tư liệu Trung Hoa hiện tồn [lúc bấy giờ] để tạo ra các câu chuyện về chính mình.

Kết luận

Keith Taylor từng viết rằng người Việt Nam “học cách để khớp nối các bản sắc phi Hoa vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của Trung Hoa”(92). Điều này đúng ở một phạm vi nào đó. Nhưng, chúng ta cần phải cẩn trọng ở cách chúng ta hiểu nhận định này. Rồi Taylor, như nhiều học giả ở Việt Nam ngày nay vẫn làm, lập luận rằng vua Hùng đã thực sự tồn tại, và rằng truyền thống chính trị có trước khi tiếp xúc với Trung Hoa này đã tạo nên một cảm quan của người Việt về bản sắc, cảm quan được duy trì suốt một nghìn năm Trung Hoa cai trị cho đến khi rốt cuộc nó được khớp nối “vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa” ở thời trung đại. Tuy nhiên, tôi cho sự thảo luận về Hồng Bàng thị truyện trong bài tiểu luận này đã chứng minh rằng các vua Hùng không có thật. Thay vào đó, họ được kiến tạo ở thời trung đại với tư cách là một bộ phận của một quá trình trong đó đầu tiên giới trí thức trinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng đã kiến tạo ra, sau đó khớp nối một bản sắc riêng vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa. Điều đó không có nghĩa là không tồn tại những thể chế ở Đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỉ đầu tiên trước CN. Các trống đồng và các di vật khác mà các nhà khảo cổ thế kỉ XX đã khai quật gợi ý rằng dường như đã tồn tại các thể chế đó. Tuy nhiên, không có chứng cớ nào cho thấy rằng các học giả Việt Nam trung đại biết về trống đồng hay những nhóm người khác đã sử dụng chúng [ở thời trung đại]. Đó là một truyền thống được kiến tạo ở thế kỉ XX. Tuy nhiên, những gì mà giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại thực sự biết là những văn bản cổ, và họ dựa vào những văn bản xưa cũ ấy để lấy chất liệu và cảm hứng nhằm kiến tạo một lịch sử cũng như một bản sắc bản địa cho bản thân mình.

Giới tinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng không đơn độc khi làm như vậy. Các học giả ở khu vực thuộc đế chế Trung Hoa, như Tứ Xuyên và Quảng Đông, cũng tham gia vào những việc làm tương tự ở những thời điểm tương tự. Đều kinh qua khu vực này trong hầu như cùng một giai đoạn, các học giả ngoảnh nhìn và hứng thú với những vùng đất địa phương của mình. Họ tạo ra những trước tác về các địa phương của họ, như các truyện chí quái, bằng cách khảo xét những gì đã từng được viết về khu vực của họ [trong quá khứ]. Trong quá trình này, họ đóng góp cho việc sáng tạo ra một bản sắc địa phương. Cuối cùng, cái dự án vốn được bắt đầu bởi giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại được [người] Việt Nam ngày nay dựa vào để phát triển xa hơn cả. Trải qua nhiều thế kỉ, những truyền thống họ kiến tạo ra trở thành tự nhiên thứ hai. Thực vậy, trải nửa thế kỉ qua, dưới sự chi phối của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, những truyền thống được kiến tạo của giới tinh hoa Hán hoá thời trung đại này giờ đây đã trở thành những chân lí không thể thay đổi. Trong khi đó, ẩn ý trong lời nhận xét của Lê Quý Đôn – rằng Liệt truyện, nguồn tư liệu chính yếu của những truyền thống được kiến tạo ấy, đã vay mượn “nhiều không thể kể xiết” những văn bản khác – đã bị cố tình bỏ qua.

LIAM C KELLEY là Phó Giáo sư về Lịch sử Đông Nam Á ở Đại học Hawai’I at Manoa. Tác giả muốn tỏ lời cảm ơn đến những nhà phê bình ẩn danh, Tạ Chí Đại Trường và Keith Taylor vì những góp ý và sự sáng suốt của họ.

Tóm tắt

Bài viết này khảo sát có phê phán tác phẩm có tên Hồng Bàng thị truyện (Truyện về họ Hồng Bàng) trong một văn bản ở thế kỉ XV, cuốn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện. Truyện này là nguồn tư liệu cho thông tin lịch sử về các vua Hùng. Các học giả lâu nay đã cho rằng thông tin này được truyền miệng từ thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên cho đến khi rốt cuộc nó được viết ra ở một thời điểm nào đó sau khi Việt Nam bắt đầu độc lập từ thế kỉ thứ X. Trái lại, bài viết này lập luận rằng thông tin về các vua Hùng được kiến tạo sau khi Việt Nam giành được độc lập và trở thành một “truyền thống được kiến tạo”.

Từ khoá: Việt Nam, lịch sử, truyền thuyết, văn học, vua Hùng.

Chú thích

87. Hai trong số những tác phẩm kinh điển về sự biến đổi này là: Robert Hartwell, “Demographic, Political, and Social Transformation of China, 750 – 1550” [Sự biến đổi nhân khẩu, chính trị và xã hội của Trung Hoa, 750 - 1550], Harvard Journal of Asiatic Studies 42, no.2 (December 1982): 365 – 442 và Robert P Hymes, Statesmen and Gentlemen: The Elite of Fu-Chou, Chiang-Hsi, in Northern and Southern Sung [Các chính khách và Quý ông: Giới tinh hoa của Phúc Châu, Giang Tây ở thời Bắc và Nam Tống] (Cambridge: Cambridge University Press, 1986).

88. Xem Franciscus Verellen, “Shu As a Hallowed Land: Du Quangting’s Record of Marvels” [Thục như là vùng đất thiêng: Ghi chép về những kì tích khác thường của Đỗ Quang Đình 杜光庭], Cahiers d’Extrême-Asie [Journal of Far Asia] 10, no. 10 (1998): 213 – 254.

89. Âu Đại Nhâm, Bách Việt tiên hiền chí [Treatise on the Previous Worthies of the Hundred Yue], (thế kỉ XVI), 4/16b – 17b; và ĐVSKTT, 3/42a – 42b.

90 . Khuất Đại Quân, Quảng Đông tân ngữ [New Anecdotes of Guangdong] (Taipei: Xuesheng Shuju, [facsimile of 1700 edition], 1968), 8/1a.

91. Như trên., 8/1b.

92. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), xxi.

Liam C. Kelley
Người dịch: Hoa Quốc Văn
Theo leminhkhaiviet blog

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad