VANEWS

Dịch chuyển quyền lực trong nền chính trị Việt Nam

   
Trong những năm gần đây, quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã gia tăng một cách đáng kể. Nếu tiếp tục, xu hướng này sẽ có nhiều tác động tới viễn cảnh chính trị của Việt Nam trong tương lai.


Sự gia tăng quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương trở nên rõ ràng vào tháng 10 năm 2012, khi cơ quan này đảo ngược một quyết định trước đó của Bộ Chính trị nhằm kỷ luật Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với lý do quản lý kém nền kinh tế. Sau đó, vào tháng 5 năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ủng hộ hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ, lần lượt là người đứng đầu Ban Nội chính và Ban Kinh tế Trung ương, ứng cử vào hai vị trí trong Bộ Chính trị. Tuy nhiên, Ban Chấp hành Trung ương lại bầu cho hai ứng viên khác.

Một ví dụ khác của sự gia tăng quyền lực này chính là phiên bỏ phiếu tín nhiệm chưa từng có tiền lệ đối với 20 quan chức cấp cao nhất của Đảng vào tháng 1 năm 2015.

Cũng trong bối cảnh này, một thành viên cao cấp của Quốc hội thậm chí còn đưa ra một đề xuất được cho là táo bạo: Việt Nam nên áp dụng cơ quan lập pháp lưỡng viện, với Quốc hội hiện nay đóng vai trò Hạ viện, còn Ban chấp hành Trung ương đóng vai trò Thượng viện.

Quyền lực được nâng cao của Ban chấp hành Trung ương đánh dấu bước chuyển biến đáng chú ý trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam. Sau sự qua đời của Tổng Bí thư Lê Duẩn năm 1986, đánh dấu sự kết thúc kỷ nguyên cá nhân lãnh đạo nhiều quyền lực (strongman), quyền lực chính trị ở cấp cao nằm trong tay Bộ Chính trị. Hiện tại, với việc Ban Chấp hành Trung ương khẳng định vai trò của mình như là thể chế có tiếng nói cao nhất trong Đảng, quyền lực chính trị quốc gia đang ngày càng bị phân tán.

Cấu trúc quyền lực của Đảng Cộng sản hiện tại đang tựa như mô hình của một kim tự tháp ngược, với Ban Chấp hành Trung ương đóng vai trò là chủ thể quyền lực nhất, tiếp đến là Bộ Chính trị và ở dưới cùng là Tổng Bí thư. Thế nhưng quá trình chuyển biến này chỉ xảy ra tại tầng cao nhất trong cấu trúc quyền lực của Đảng. Hầu hết 3,6 triệu đảng viên, cũng như người dân, vẫn đứng ngoài cuộc chơi này, và hầu như không có bất cứ ảnh hưởng nào tới lịch trình nghị sự cũng như quá trình hoạch định chính sách của Ban Chấp hành Trung ương.

Chính vì thế, xu hướng này không phải là một chỉ dấu hướng tới dân chủ hoá tại Việt Nam. Thay vì vậy, nó là một chỉ dấu cho thấy quá trình tranh giành quyền lực đang diễn ra trong nội bộ giới tinh hoa chính trị của đất nước. Thủ tướng Dũng đã áp đặt ảnh hưởng ngày càng tăng của mình lên Ban Chấp hành Trung ương, đạt được nhiều quyền lực hơn so với các đồng nghiệp của mình, đặc biệt là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Điều này giải thích lý do tại sao Ban Chấp hành Trung ương đã đảo ngược quyết định của Bộ Chính trị nhằm kỷ luật ông Dũng, và từ chối cho ông Thanh và ông Huệ – những nhân vật hoặc là đối thủ chính trị hoặc không phải là đồng minh của ông Dũng – gia nhập Bộ Chính trị. Và điều này cũng phần nào được thể hiện thông qua thực tế rằng ông Dũng đã giành được kết quả cao hơn hẳn so với các đồng nghiệp trong phiên bỏ phiếu tín nhiệm vào tháng 1 năm 2015, mặc dù thành tích kinh tế gần đây của quốc gia vẫn còn nhiều điều phải cải thiện.

Vậy làm thế nào mà Thủ tướng Dũng có thể gây ảnh hưởng ngày càng lớn lên Ban Chấp hành Trung ương?

Ban Chấp hành Trung ương phần lớn là thành viên chính phủ và các lãnh đạo cấp cao từ các tỉnh, những người mà quá trình bổ nhiệm họ được quyết định hay ảnh hưởng lớn bởi ông Dũng. Vai trò quan trọng của ông Dũng trong quá trình phân bổ ngân sách quốc gia tới các chính quyền địa phương, bên cạnh các mối quan hệ tốt đẹp của ông với giới kinh doanh vốn thường giữ quan hệ gần gũi với các lãnh đạo tỉnh, cũng đã giúp ông có được nhiều sự ủng hộ chính trị. Ảnh hưởng của ông Dũng đối với Bộ Quốc phòng, và đặc biệt là Bộ Công an (nơi ông trước đây từng giữ chức Thứ trưởng) cũng mang lại cho ông nhiều lợi thế, bởi vì các đại diện xuất thân hoặc đến từ hai bộ này chiếm tới gần 15% số lượng Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.

Sau Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ 12 vào năm 2016, Ban Chấp hành Trung ương có thể sẽ tiếp tục tập trung nhiều quyền lực hơn, đặc biệt nếu các cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đối với quan chức cấp cao của Đảng vẫn được duy trì và nếu như Thủ tướng Dũng có thể giành thêm được một nhiệm kỳ nữa trong Bộ Chính trị bất chấp giới hạn về tuổi tác.

Nếu như ông Dũng có thể tận dụng nguồn vốn chính trị hiện tại của mình để đưa những đồng minh của ông hay những người được ông đỡ đầu vào trong Ban Chấp hành Trung ương mới, ông Dũng có khả năng rất cao sẽ đạt được tham vọng của mình là trở thành Tổng bí thư tiếp theo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong kịch bản ấy, Việt Nam sẽ có một ban lãnh đạo mạnh hơn và thống nhất hơn, đặc biệt khi thủ tướng tiếp theo có khả năng là một trong những nhân vật được ông Dũng bảo trợ. Điều này có thể có lợi cho Việt Nam vì đất nước cần một thế hệ lãnh đạo mạnh mẽ và hiệu quả để theo đuổi những chính sách cải cách kinh tế và ngoại giao táo bạo hơn. Thế nhưng lãnh đạo mạnh có thể dẫn tới việc các cải cách chính trị có ý nghĩa cũng như cuộc chiến chống tham nhũng sẽ bị hạn chế.

Đội hình lãnh đạo chính trị Việt Nam trong tương lai còn phụ thuộc vào quá trình cạnh tranh quyền lực xảy ra trước thềm đại hội Đảng vào năm sau. Lợi thế trong trò chơi quyền lực hiện tại dường như đang nghiêng về phía Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhưng kết quả cuối cùng sẽ chưa thể xác định được cho tới khi đại hội kết thúc vào năm sau.

Lê Hồng Hiệp là nghiên cứu viên khách mời tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore. Ông hiện tại cũng đang là giảng viên tại Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
   
In recent years the power of the Central Committee of the Communist Party of Vietnam (CPV) has increased dramatically. If this trend continues, it may bear important implications for Vietnam’s political outlook.


The Central Committee’s increasing power became evident in October 2012, when the Committee reversed an earlier decision by the Politburo to discipline Prime Minister Nguyen Tan Dung for his mismanagement of the economy. Then, in May 2013, General Secretary Nguyen Phu Trong endorsed Nguyen Ba Thanh and Vuong Dinh Hue, who headed the Party’s Commission of Internal Affairs and Commission of Economic Affairs respectively, as additional Politburo members. But the Central Committee elected two other candidates.

Another example of the Committee’s increasing power is its unprecedented confidence vote on 20 top party officials in January 2015.

Against this backdrop, a senior member of the National Assembly has even put forward a bold proposal that Vietnam should adopt a bicameral legislature, with the National Assembly serving as the lower house and the Party’s Central Committee as the senate.

The enhanced power of the Central Committee marks a transformation in the power structure of Vietnam’s political system. After the demise of General Secretary Le Duan in 1986, which marked the end of the strongman era, top political power has rested with the Politburo. Now with the Central Committee asserting its role as the highest authority of the Party, the country’s political power has become increasingly diffuse.

The CPV’s power structure now resembles a reverse pyramid with the Central Committee as the most powerful actor, followed by the Politburo and then the General Secretary. But this transformation is taking place at the top layer of the Party’s structure only. Most of the 3.6 million party members, as well as the public, are left out of the game, and have hardly any influence on the Central Committee’s agenda or its decision-making processes.

Therefore, this trend is not an indication of Vietnam’s progress towards democratisation. Rather, it is indicative of the ongoing power struggle within Vietnam’s top political elites. Prime Minister Dung has been exerting growing influence over the Central Committee, gaining more power at the expense of his peers, especially General Secretary Nguyen Phu Trong and President Truong Tan Sang. This explains why the Central Committee reversed the Politburo’s decision to discipline him, and denied Politburo membership for Thanh and Hue, who were either political rival or non-ally of Dung. It also partly accounts for the fact that Dung outperformed his peers in the Central Committee’s confidence vote in January 2015, although the country’s recent economic performance still leaves much to be desired.

How did Prime Minister Dung gain growing influence over the Central Committee?

The Central Committee is mostly composed of cabinet members and top officials from provinces, whose appointment was either decided or greatly influenced by Dung. Dung’s important role in allocating state budgets to local governments alongside his good relationship with business, which normally maintains close ties with provincial leaders, also affords him a significant level of political loyalty. Dung’s influence over the Ministry of Defense and, especially, the Ministry of Public Security (where he previously served as deputy minister) also works in his favour, because representatives from or associated with these two ministries account for up to 15 per cent of the Central Committee.

Following the 12th CPV National Congress in 2016, it is likely that the new Central Committee will continue to wield growing power, especially if the current norm of the Committee conducting confidence votes on top party officials is maintained and if Prime Minister Dung is able to secure another term in office despite nearing the Politburo’s age limit.

If Dung can make use of his current political capital to get his protégés and allies elected to the new Central Committee, it is highly likely that he will be able to achieve his ambition of becoming the next CPV General Secretary.

Under such a scenario, Vietnam would have a stronger and more unified leadership, especially given that the next prime minister will probably be one of Dung’s protégés. This may be favourable for Vietnam because it needs a strong and efficient leadership to pursue bolder economic and foreign policy reforms. But strong leadership may also constrain meaningful political reforms and the fight against corruption.

Vietnam’s political leadership still depends on the outcome of ongoing power struggles in the lead up to the next party congress. The game seems now to be in Prime Minister Dung’s favour, but the final score will not be settled until the congress concludes in 2016.

Le Hong Hiep is a visiting fellow at the Institute of Southeast Asia Studies (ISEAS), Singapore. He is currently on research leave from his lectureship at the Faculty of International Relations, Vietnam National University- Ho Chi Minh City.

Lê Hồng Hiệp
Nguyễn Thế Phương biên dịch
Theo Nghiên Cứu Quốc Tế
Nguồn: Lê Hồng Hiệp, “Power shifts in Vietnam’s political system”, East Asia Forum, 05/03/2015.

Lời sám hối muộn màng

"...Nay là lúc cần phải phân tích và tìm hiểu cặn kẽ, nhận định rạch ròi xem ai mới chính là những kẻ “phản động, phản quốc, bù nhìn, tay sai ngoại bang”..."

Lời sám hối muộn màng. Nguồn: huffingtonpost.com

“Em muốn nhắn gửi những người bạn không đồng quan điểm với em rằng: ‘Chúng mình là người lớn. Hãy sống thế nào cho ra người lớn.’ Đừng để con trẻ phải gánh chịu. Đừng để con trẻ chất vấn vì đó đúng là một điều đáng nhục. Mình chính là nhân tố thay đổi xã hội, thay đổi thể chế để giúp Việt Nam trở nên tốt hơn, người dân Việt Nam được sống an nhiên hơn.” – Anna Huyền Trang

Hôm nay ngày 3 tháng 3 năm 2015, tôi quyết định viết bài sám hối này để dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ và nhân dịp chính thức xin lỗi tất cả người dân miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở xuống) cùng với hàng triệu người Việt Nam di tản trốn ngục tù cộng sản, đã hy sinh hay đang sinh sống khắp nơi trên thế giới.

Trước hết tôi xin tự giới thiệu. Tôi tên là Lê Quốc Trinh, sinh năm 1948 cư ngụ tại Canada từ năm 1967, là kỹ sư cơ khí về hưu, gia đình gốc Việt Nam, nuôi dưỡng con cái theo truyền thống Việt Nam. Cha mẹ tôi là người miền Bắc, 1945 di cư vào Nam. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam, tại Saigon thân yêu; tôi được hấp thụ một nền giáo dục cao thượng, nhân bản, nồng nàn yêu nước dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa; vì thế, tôi không thể nào quên công ơn của toàn thể nhân dân và chính phủ miền Nam đã góp phần đào tạo tôi thành một con người lương thiện, biết tư duy và có tình cảm.

Lời xin lỗi

Trước hết tôi thành thật xin lỗi cố tổng thống Ngô Đình Diệm vì hành động theo đuôi phong trào Phật giáo xuống đường chống đối chính phủ trong lúc không hiểu rõ nguồn cơn và sự thật của vấn đề. Năm 1963 tôi còn là một thanh niên trẻ tuổi bồng bột; là một học sinh trường trung học Võ Trường Toản, sát cạnh dinh tổng thống nên tôi dễ dàng bị lôi cuốn theo những đoàn biểu tình một cách thiếu ý thức. Qua đến Canada tôi tìm, hiểu được thêm nhiều chi tiết lịch sử, được nghe các nhân chứng kể lại về phong trào Phật giáo, và tôi truy ra được nguồn gốc của sự kiện. Tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề sau này.

Thứ hai, tôi thành thật xin lỗi gần hai triệu người tị nạn miền Nam Việt Nam đã vượt biển, vượt biên đi tìm tự do(1), vì những hành vi khi tôi sinh hoạt và đóng góp tích cực cho Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada (HVKYNTC), từ năm 1973 đến năm 1990. Tôi đã vô tình tiếp tay cho một tổ chức ủng hộ và phục vụ cho Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là CHXHCN Việt Nam, làm những việc góp phần xây dựng cho một chế độ phi nhân bản, phản khoa học tại quê nhà. Tôi sẽ tiếp tục trình bày cặn kẽ những sự kiện xảy ra ở trong tổ chức này này để tất cả bạn đọc có thể thấy rõ bộ mặt thật của một nhóm người gọi là trí thức thân Cộng trong thời gian Hội còn hoạt động (1969-1990) và cho đến ngày nay.

Thứ ba, tôi thành thật xin lỗi các bác, các anh chị, công chức chính phủ và toàn thể các chiến sĩ, sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ tự do – trong gần 21 năm, 1954-1975 – và đời sống của người dân miền Nam Việt Nam. Tôi rời Sài Gòn, du học từ cuối năm 1967, nên không có công lao gì trong công cuộc chiến đấu đầy xương máu chống cộng sản xâm lược từ phía Bắc. Có quá nhiều tấm gương hy sinh quả cảm của sĩ quan và binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng hòa mà tôi không biết đến, đó là lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Đến nay nhờ thông tin quảng bá trên mạng lưới Internet và qua thông tin cặn kẽ từ nhiều trang báo mạng hải ngoại mà tôi mới thực sự hiểu nỗi thống khổ và hy sinh của các anh chị, các bác trong hàng ngũ quân cán chính Việt Nam Cộng hòa.

Danh dự -Tổ quốc: Một chiến sĩ Thủy quân lục chiến VNCH bị thương trong cuộc chiến đấu bảo vệ người dân Sài Gòn  trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Nguồn: Angelo Cozzi/Mondadori Portfolio via Getty Images

Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ

Thật tình mà nói, tôi đã hoạt động tích cực ở đủ mọi lĩnh vực trong một tổ chức thân cộng hơn 17 năm ròng nhưng không hề bị tư tưởng Mác Lê ảnh hưởng vì những yếu tố sau:

- Là người suy nghĩ độc lập, bướng bỉnh, không a dua và không quỵ luỵ từ nhỏ;

- Thích đọc sách, truyện, bị lôi cuốn theo lối sống miền Nam ngày trước, chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá miền Nam dân chủ tự do.

- Gần 40 năm hoạt động trong ngành công nghiệp khai khoáng và hoá dầu của Canada tôi đã học được nhiều điều hay về cách tổ chức, tư duy, cách làm việc trung thực của hệ thống tư bản Bắc Mỹ. Điều này đã giúp tôi đã gạn bỏ đi nhiều tàn dư rơi rớt trong lối học từ chương của Việt Nam thời xưa cũng như tinh thần bảo thủ phương Đông; kinh nghiệm làm việc đã giúp tôi hiểu rõ xã hội tư bản hơn và tránh được cạm bẫy dụ dỗ của ý thức hệ cộng sản Mác Lê, và đã giúp cho tôi có cái nhìn chính xác về những con người trí thức thiên tả tháp ngà trong Hội VKYNTC.

- Tôi cũng có được những tấm gương yêu nước dưới thời thực dân Pháp từ những bậc tiền bối của gia đình. Ông ngoại tôi, cụ cử Nguyễn Hữu Cầu, ông bác tôi, cụ Từ Long Lê Đại, là hai trong số những sáng lập viên Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đã từng bị thực dân Pháp bắt giam đầy ra đảo hơn 17 năm trời. Bác tôi, cư sĩ Phật học nổi tiếng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, người soạn ra bộ Hán Việt Tự Điển lừng danh, cũng từng bị Việt Minh đem ra đấu tố trong Cải Cách Ruộng Đất 1954 khiến ông đã phải trầm mình tự tử để minh oan. Tôi sẽ có dịp nói nhiều đến những kỷ niệm khó quên về mặt tâm linh với bác Hai Kha Thiều Chửu cùng con cháu hậu duệ đã giúp tôi lần dò tìm lại truyền thống yêu nước của giòng giõi nhà Nguyễn Đông Tác ở Hà Nội.

- Là một trong những thành viên tích cực hoạt động giúp HVKYNTC vì tôi nghĩ rằng mình đang góp phần giúp ích cho quê hương; với kinh nghiệm của một kỹ sư cơ khí thích thiết kế và sáng tạo, tôi là người phụ trách chính về công cuộc cải tạo xây dựng lại Hội quán, số 1450 đường Beaudry, Montreal, giúp cho Hội đoàn này có cơ sở vật chất vững mạnh để phát triển thịnh vượng từ năm 1984 đến 1990. Và tôi cũng có một số hiểu biết nhất định về nhiều vấn đề liên quan đến những công ty kinh doanh do một số nhân vật trong ban lãnh đạo Hội đứng đầu. Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những bài sau.

1450 Rue Beaudry, Montréal H2L 3E5: Trụ sở kinh tài của Hôi VKĐK thời Việt Nam bị cấm vận đến khi tan vỡ (1984-1990). Nguồn: Google Maps.

- Mẹ tôi là một hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam, tận tuỵ tần tảo hy sinh xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái. Nhà in Hưng Long, ở Chợ Cũ Saigon, do mẹ tôi thành lập từ 1960, đã từng in ấn rất nhiều kinh sách nhà Phật. Tôi là thầy cò, có trách nhiệm kiểm tra văn tự, lỗi chính tả trước khi lên khuôn. Do đó tôi có cơ duyên tiếp xúc với triết lý nhà Phật sớm; sau này, qua nhiều tác phẩm của bác Thiều Chửu tôi lại có dịp tìm hiểu nghiên cứu thâm sâu về đạo Phật. Mạng lưới Internet cùng với nhiều diễn đàn đã giúp tôi hiểu rõ phong trào Phật giáo thời 1963, cùng với kinh nghiệm sống trong xã hội tự do dân chủ tư bản ở Bắc Mỹ đã khiến tôi đã phải tự thay đổi tư duy để có quan điểm đúng đắn về lĩnh vực tôn giáo tâm linh;

- Tôi là người thích âm nhạc từ nhỏ, tự học thổi sáo, chơi khẩu cầm, đánh đàn mandoline, và tôi đã đi vào thế giới tân nhạc Việt Nam với cả trái tim nồng nhiệt. Tôi đã từng mời nhiều em khiếm thị ở trường Mù Saigon đến nhà giúp tôi học thêm về lý thuyết và thực hành âm nhạc. Tôi biết đến nhạc tiền chiến rất sớm, thưởng thức nhiều bản nhạc xa xưa ngay tại miền Nam trong những năm 1960, những tác phẩm mà chính quyền cộng sản miền Bắc đã nghiêm cấm. Tôi sưu tầm những bản hùng sử ca Việt Nam từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp để hiểu rõ thêm bối cảnh lịch sử và tâm tư của nhiều nhạc sĩ dân gian nổi tiếng. Tôi sẽ trình bày cặn kẽ thêm sau này.

Đối tượng của lời sám hối

Tôi biết trước những hậu quả khó tránh khỏi khi viết bài đăng tải rộng rãi trên các trang báo Mạng. Trước tiên là tình bạn hữu có thể sẽ bị sứt mẻ trầm trọng với những người tôi từng sát cách sinh hoạt trong HVKYNTC; sau nữa là những thay đổi có thể có trong quan hệ gia đình từ Canada cho đến Việt Nam. Tôi chấp nhận tất cả và xem như đó là cái giá có thể phải trả; tôi sẽ chấp nhận, chịu đựng mọi hệ quả để lương tâm được thanh thản không còn bị giầy vò.

Tuy nhiên, tôi xin phép có đôi lời nhắn gởi đến với tất cả các anh chị bạn bè quý mến trong Hội.

Thân gửi các anh chị em quý mến trong Hội,

Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi phản ứng của các anh chị em hơn hai năm qua, từ khi tôi viết và đăng trên Mạng bài “Sự thật nằm sau bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”(2). Tôi đã gửi riêng cho các anh chị bài viết đó qua e-mail để giúp các anh chị tìm hiểu rõ hơn nội dung bức công hàm và bối cảnh lịch sử xung quanh sự kiện rất quan trọng này. Thế nhưng tôi đã hoài công và vô cùng thất vọng, vì không được một câu trả lời dù đồng ý hay phản đối lập luận của tôi. Tôi xin phép được nhắc lại bài viết đó để anh chị đọc lại và cho cộng đồng người Việt hải ngoại cùng xem và phê phán.

Hai năm trôi qua, những gì xảy ra ở Biển Đông, xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đủ để chứng minh cho những lập luận, phân tích và nhận định của tôi. Trung Quốc càng ngày càng hung hăng, xâm lấn ngang ngược. Trong khi đó thì tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước CHXHCN Việt Nam lại càng co vòi, lép vế, ngậm miệng nín khe. Họ cùng ngồi yên, nhìn ngư dân Việt Nam bị cướp phá uy hiếp. Tất cả đều chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam chỉ là một bè lũ bù nhìn, bán nước. Họ đã lấy giang san lãnh thổ đem bán – bằng văn tự – cho lũ láng giềng hung tợn phương Bắc, để nhận được viện trợ vũ khí đạn dược, nhiên liệu thực phẩm, hầu thực hiện mưu đồ chiếm nốt miền Nam trù phú phì nhiêu. Trong khi đó, ngay sau khi Trung Quốc đưa Tuyên bố về Lãnh hải ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bằng hành động, đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở đảo Quang Hòa(3) và ở quần đảo Hoàng Sa bằng trận hải chiến năm 1974, cũng như những công văn gởi đến Liên Hiệp Quốc phản đối CHNDTH vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam(4).

Công văn của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi Chủ tịch HĐ Bảo an LHQ, Gonzalo Facio, phản đối CHNDTH trắng trợn vi phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, trang 1/5 (New York, 18/01/1974). Nguồn: Wilson Center. Digital Archive, International History Declassified

Các anh chị theo dõi sát tình hình Biển Đông từ lúc dàn khoan HD-981 lừng lững đi vào lãnh hải Việt Nam và ngang nhiên cắm sào thăm dò dầu khí của Việt Nam. Các anh chị cũng đã xuống đường phản đối theo đúng chỉ thị… rồi sau đó mọi việc, một cách êm thắm, lại đâu vào đó. Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang nhiên xâm phạm biển đảo Việt Nam, và anh chị vẫn im hơi lặng tiếng. Đó có phải là hành động và tư cách của những con người trí thức hải ngoại, những người đã từng hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng của miền Nam Việt Nam, những người từng vỗ ngực tự xưng là Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada?

Tôi rất mong các anh chị suy nghĩ lại, đặt quyền lợi đất nước và con người Việt Nam lên trên tất cả mọi quan hệ lợi nhuận riêng tư với chế độ cộng sản đương quyền, để cùng nhau lên tiếng sám hối vì an nguy của cơ đồ tổ quốc. Cơ hội để cứu nguy cho đất nước không còn nữa đâu! Hơn 60 năm qua, chủ nghĩa cộng sản ngấm quá sâu vào não trạng người dân miền Bắc, toàn thể Bộ Chính trị đảng cộng sản và tập đoàn lãnh đạo Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã và đang bị thế lực từ phương Bắc uy hiếp, mua chuộc, ly gián. Bài học lịch sử về tình báo, nội gián Trọng Thủy-Mỵ Châu vẫn là tấm gương lớn cho hậu thế luận cổ suy kim. Giặc bên ngoài và bè lũ tay sai nội gián bên trong đã và đang gặm nhấm, bào mòn truyền thống yêu nước chống xâm lược của dân tộc, các anh chị chưa thấy sao? Nếu quả thật văn kiện bí mật từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990(5) có thật, vì Đảng và Nhà Nước Việt Nam vẫn còn ngậm miệng nín khe trước sức ép dư luận trong nước [xem thêm Kiến Nghị của 61 vị nhân sĩ tướng tá QĐND Việt Nam năm 2014], thì chúng ta chỉ còn không tới 5 năm để lên tiếng phản kháng và để nuôi hy vọng dân tộc Việt Nam sẽ thoát khỏi ách thống trị Đại Hán. Các anh chị không cảm thấy quan tâm, áy náy và trăn trở trước vấn đề nghiêm trọng này hay sao?

Nguyện vọng tương lai

Nghĩ lại thời gian đã qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đã bị lừa dối, bị đánh cắp, và cảm thấy rất ăn năn vì đã không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đòi lại công lý cho toàn thể nhân dân miền Nam. Tôi cảm thấy xấu hổ khi có lúc đã sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền của chủ nghĩa cộng sản một cách vô ý thức. Nay là lúc cần phải phân tích và tìm hiểu cặn kẽ, nhận định rạch ròi xem ai mới chính là những kẻ “phản động, phản quốc, bù nhìn, tay sai ngoại bang”. Như thế là một phần nhỏ góp vào việc viết đúng sự thực lịch sử Việt Nam cận đại, đặt quân cán chính và người dân miền Nam Việt Nam cũng như hàng triệu người tị nạn cộng sản khắp nơi vào đúng vị trí trong lịch sử nước nhà. Lời sám hối của chúng ta có thể là những nhúm lửa nhỏ đốt cháy những ngôn từ tuyên truyền của tập đoàn cộng sản đang tiếp tục lừa bịp nhân dân Việt Nam và cả những thế hệ tiếp nối của chúng ta.

Tôi rất mong được đứng nghiêm, chào lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa và cất cao tiếng, hát bài Tiếng Gọi Thanh Niên (Quốc Ca Việt Nam Công hòa) ngày trước. Tôi rất mong được trở về quê hương như một kỹ sư đã nghỉ hưu, đem 40 năm kinh nghiệm ở xứ người góp phần phục vụ đất nước trước khi chết.

Đường Hàm Nghi – Sài Gòn 1967, ngày ấy tôi đi. Photo: Donald Jellema

Montréal, Canada
4 tháng 3, 2015

Lê Quốc Trinh
Theo DVCOnline
(1) 1,642,179 người đã rời bỏ Việt Nam (kể cả người gốc Hoa và người miền núi) đi tị nạn khắp thế giới trong giai đoạn 1975 – 1997. Canada đã nhận định cư cho 163,415 người. Nguồn: Robinson, W. Courtland, Terms of Refuge,United Nations High Commissioner for Refugees, London: Zed Books, 1998 p. 270, 276, Appendix 2; Far Eastern Economic Review, June 23, 1978, p. 20.
(2) Lê Quốc Trinh, Sự thật nằm sau “Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”, Dân Làm báo, 30/04/2013.
(3) Năm 1957, hãng thông tấn Tân Hoa (New China News Agency) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa tin “quân đội miền Nam Việt Nam của Ngô Đình Diệm” đã chiếm đóng các đảo Hữu Nhật (Robert), đảo Hoàng Sa (Pattle), đảo Quang Ánh (Money) thuộc quần đảo Hoàng Sa. (Nguồn: South Vietnam Troops Illegally Occupied Chinese Island, NCNA, New China News Agency Peking, March 6, 1957 in SCPM, no. 1486 (March 11, 1957), p.22 trích dẫn lại trong Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands, Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28).
Ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ nước CHNDTH công bố Tuyên bố Lãnh hải 12 hải lý kể cả các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như Bãi Macclesfield (quần đảo Trung Sa). Ngày 22 tháng Hai, 1959, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã trả lời Trung Cộng bằng hành động, Hải quân VNCH đã đến đảo Quang Hòa bắt 82 ngư dân Trung Hoa (sau đó đã trả tự do) và một tháng sau đó lại khẳng định chủ quyền của Việt Nam một lần nữa, cũng tại đảo Quang Hòa. (Nguồn: Statement of the Ministry of Foreign Affairs on the Encroachment upon Our Territorial Sovereignty and the Capture of Our Fishermen by the South Vietnamese Authorities, February 27, 1959, in Chung-hua jen-min kung-ho-kuo tui-wai kuan-hsi wen-chien-chi, vol. 6, 1959, pp. 27-28; Further Statement by the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China Protesting the Illegal Acts of the South Vietnamese Authorities on the Encroachment of Our Territorial Sovereignty, Capture and Mistreatment of Our Fishermen, April 5, 1959, ibid., pp. 37-38 trích dẫn lại trong Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands, Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28).
(4) Thư của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi ông Gonzlio Facio, Chủ tịch HĐ Bảo an LHQ, Văn phòng Quan sát viên Thường trực, Việt Nam Cộng hòa, tại Liên Hiệp Quốc, Số 2142 UN/VN và 2143 UN/VN. Thư của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi ông Kurt Waldheim, Tổng thư ký LHQ, Văn phòng Quan sát viên Thường trực, Việt Nam Cộng hòa, tại Liên Hiệp Quốc, Số 2144 UN/VN.
(5) Nguyễn Trọng Vĩnh – Mặc Lâm (RFA), Hậu quả sau hội nghị Thành Đô? RFA, 2012-10-09

Về bài viết "Ai giết Người Cao Tuổi"

Vừa qua, tôi có được đọc bài viết "Ai giết Người Cao Tuổi" của tác giả Trần Hồng Tâm, theo đó tác giả đã khẳng định rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và ông Đinh Thế Huynh là thủ phạm giết chết báo Người Cao tuổi và Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa và phủ định ý kiến cho rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là thủ phạm. Do trong bài viết, tác giả Trần Hồng Tâm có nhắc đến nội dung trong bài viết "Vì sao Thủ tướng xử lý TBT Báo Người Cao Tuổi vào lúc này?", nên thấy rằng cũng cần có đôi lời.

Khi đọc hết bài viết nói trên, tôi mới biết tác giả là ông Trần Hồng Tâm, người gần đây được dư luận chú ý sau khi bài viết "Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau" của ông được trang Chân dung Quyền lực chọn đăng lại, vì đã hết lời ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Điều đó, cũng khiến tôi dễ thông cảm với những nhận định không mấy khách quan của tác giả Trần Hồng Tâm trong bài viết. Theo tác giả Trần Hồng Tâm thì "Người ta cáo buộc Nguyễn Tấn Dũng là thủ phạm của Người Cao Tuổi, nhưng không đưa ra bằng chứng thuyết phục, và cách suy diễn có tính gán ghép.". Do vậy, để làm sáng tỏ vấn đề, xin đi vào những cụ thể như sau:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nổi bật hay mờ nhạt?

Từ năm 1986 trở lại đây, sau Tổng Bí thư Lê Duẩn thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trở thành một hiện tượng và trở thành một ngôi sao sáng trong chính trường Việt nam. Với vai trò năng động của người đứng đầu cơ quan Hành pháp, Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng đã thực sự làm lu mờ vai trò của các lãnh đạo chủ chốt khác, kể cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trong bài viết "Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau", chính tác giả Trần Hồng Tâm đã từng đánh giá về ông Thủ tướng Dũng rằng: "Ông Dũng vượt lên như một người thuyền trưởng. Liệu ông có thể đưa con thuyền vượt qua sóng gió. Liệu ông có thể trở thành mũi thuyền rẽ sóng ra khơi như một câu thơ mà tôi thuộc từ hồi còn bé, hình như của Xuân Diệu, viết về Việt Nam, về đất mũi Cà Mau quê hương ông: Tổ quốc tôi như một con thuyền/ Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau."

Nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vai trò nổi bật như thế, thì tại sao trong bài viết "Ai giết Người Cao Tuổi" làn này thì tác giả Trần Hồng Tâm lại nhận định ngược lại, khi cho rằng: "Ở Việt Nam không có ranh giới giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp. Đảng lãnh đạo trực tiếp và toàn diện cả ba lĩnh vực. Ba trong một, và một bằng ba, vai trò của Thủ tướng (hay hành pháp) vô cùng mờ nhạt trong lĩnh vữc này.". Và "Ông Dũng không thể một mình vượt qua nổi hệ thống: Ban Tư tưởng, Ban Văn hóa, Ban Tuyên huấn, Ban Khoa giáo, Ban Bí thư cùng các bộ, hội, chằng chịt, chồng chéo, ngành dọc, ngành ngang ràng buộc lẫn nhau giữa những bờ quyền lực. Hơn nữa, đây là thời gian nhậy cảm, chẳng dại gì mà ông đi gây thù chuốc oán...

...Tấn công vào Người Cao Tuổi bằng một cuộc hợp đồng binh chủng lớn gồm gồm nhiều bộ, nhiều ngành, nhiều người, nhiều hội, tiến hành bài bản, thanh tra, kết luận, chính trị hóa, hình sự hóa, chuyển cho cơ quan điều tra, truy tố, truyền thông không được đưa tin nhiều chiều, thẻ nhà báo bị tịch thu. Phải là một tập thể, một Nguyễn Tấn Dũng không kham nổi, không dám, xung quanh ông còn nhiều rủi ro rình rập."

Nếu như nhìn lại kết quả lấy phiếu tín nhiệm 20 lãnh đạo chủ chốt của Đảng là Bộ Chính trị và Ban Bí thư trong GHội nghị TW10 vừa qua thì thấy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chiếm vị trí đầu bảng, bỏ xa Tổng BT Nguyễn Phú Trọng ở vị trí thứ 8. Điều đó chứng tỏ, ông Dũng đã nhận được sự ủng hộ đa số gấn như tuyệt đối của Ban Chấp hành TW Đảng. Cần phải hiểu, sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng bây giờ đã khác với trước kia, toàn bộ mọi vấn đề bây giờ đều phải do Ban Chấp hành TW quyết định, cái thời Bộ Chính trị làm mưa làm gió đã qua rồi. Ví dụ như bài học ở Hội nghị TW6, khi đa số thành viên Bộ Chính trị đã thống nhất kỷ luật đồng chí X nhưng cuối cùng khi đưa ra Hội nghị Ban Chấp hành TW thì tình thế đã đảo ngược 180 độ vì Ban Chấp hành TW đã bác bỏ đề nghị này. Hay việc Tổng BT Nguyễn Phú Trọng đề xuất hai ông Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Kinh tế TW, ông Nguyễn Bá Thanh - Trưởng Ban Nội Chính TW vào Bộ Chính trị song Ban Chấp hành TW không lựa chọn mà chọn lựa người khác là những ví dụ điển hình.

Việc một người có thể làm những điều phi thường như thế, cái mà nhiều người không thể tin nổi những việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã làm được, có như thế thì người đó mới có thể đủ tầm để người ta tin tưởng và coi ông như một thuyền trưởng. Hẳn việc này tác giả Trần Hồng Tâm không thể không biết.

Có phải chống tham nhũng là chuyện vặt?

Tham nhũng là vấn nạn hàng đầu đe dọa tới sự tồn vong của Đảng CSVN là điều chắc chắn không thể phủ nhận được, không phải ngầu nhiên mà lãnh đạo Đảng CSVN đã ví tham nhũng như giặc nội xâm. Nghị quyết Hội nghị TW4 Đảng CSVN đã khẳng định: Suy thoái, biến chất, tham nhũng là thực trạng cấp bách, đã và đang ảnh hưởng lớn đến uy tín, sự tồn vong của đảng. Vậy mà theo tác giả Trần Hồng Tâm thì: "Mục tiêu sống còn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là giữ vững Chủ nghĩa Xã hội. Chống tham nhũng chỉ là chuyện vặt. Bởi, tham nhũng không thể và không bao giờ đánh sập CNXH. Ngược lại, tham nhũng là thuốc thánh giúp CNXH cải tử hoàn đồng. Tất cả những ai đụng đến CNXH mới là kẻ thù mà ông Trọng nhằm tới, và ông quyết đánh đến cùng. Không phải ngẫu nhiên Người Cao Tuổi bị truy tố theo điều 258, bóng dáng của những bản án giành cho những người đòi xét lại CNXH."  

Xin hỏi giữ vững Chủ nghĩa Xã hội và giữ vững sự ổn định của chế độ thì cái nào quan trọng hơn? Khi Đảng mất và chế độ không còn thì liệu Chủ nghĩa Xã hội có còn hay không? Song quan trọng hơn cần phải hiểu, Chủ nghĩa Xã hội bây giờ chỉ là tấm bình phong hòng để chứng tỏ rằng Đảng CSVN bây giờ là một chính đảng cách mạng vẫn kiên định đường lối và lập trường của họ. Còn trên thực tế thì làm gì còn CNXH, kể từ năm 1986 khi chuyển đổi từ nền Kinh tế Kế hoạch sang nền Kinh tế Thị trường Định hướng XHCN thì vấn đề công hữu về tư liệu sản xuất hầu như đã bị triệt tiêu. Vậy thì còn gì là Chủ nghĩa Xã hội theo CN Marx - Lenin?

Báo Người Cao tuổi của Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa đã dũng cảm tố cáo các vụ việc tham nhũng được dư luận đồng tình và ủng hộ là điều có thật. Tuy vậy, việc Báo Người Cao tuổi của Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa không biết do vô tình hay hữu ý, đã quá tập trung vào các vụ việc tham nhũng của các quan chức thuộc cơ quan hành pháp là điều có thật và không thể chối bỏ. Cụ thể như các bài viết: "Chống tham nhũng khi trao "vũ khí" cho bọn biến chất " đăng ngày 03/5/2013; "Bàn về "Thị trường sao và vạch" đăng ngày 01/4/2013; "Sự thật về "Công tử" Hà Thành ra Trường Sa" đăng ngày 09/7/2014; "Huyện Văn Giang quyết định thực hiện cưỡng chế trái luật' nói về vụ cưỡng chế theo lệnh của quan chức huyện hôm 23/4 năm đó liên quan đến công trình Ecopark, đăng ngày 25/04/2012. Và gần đây nhất là bài "Lại chuyện lạ Lâm Đồng - Khi con quan là con nghiện" v.v... Điều đáng nói là bên cạnh đấy thì người ta thấy không có các bài viết về các vụ việc tham nhũng thuộc cơ quan Đảng và Hà nội, đó là điểm khiến người ta không thể không nghi ngờ động cơ của họ?

Thử hỏi Báo Người Cao tuổi của Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa không được ai đấy chống lưng để đánh các quan chức thuộc cơ quan hành pháp (Chính phủ), thì họ có dám làm một công việc tày trời như thế hay không?

Có hay không mâu thuẫn trong nội bộ Đảng?

Trong bài viết của tác giả Trần Hồng Tâm đã khiến cho người đọc bất ngờ về tư duy chính trị, khi ông cho rằng diễn biến chính trường VN hầu như không có sự thay đổi hay biến động. Nghĩa là trước ra sao thì bây giờ cũng vẫn như thế. Đây là một sai lầm khó có thể tha thứ. Trên thực tế thì bản chất của Đảng CSVN đến nay đã thay đổi cơ bản, đặc biệt là vấn đề bè phái trong việc đấu đá tranh giành quyền lực điều mà trước đây chỉ là những hiện tượng chứ không công khai và phổ biến như bây giờ.

Để cho khách quan, xin trích một đoạn trong bài "Việt Nam năm 2015, chông chênh giữa ngã ba đường" của tác giả Anh Lãng, theo đó tác giả đã đánh giá rằng: "15 năm qua sau thời đại Võ Văn Kiệt, giới lãnh đạo Việt Nam lâm vào một thời kỳ khủng hoảng nặng nề về chất lượng. Đám chính khách về sau này, phần lớn kém cỏi, yếu về quyền lực và thiếu tầm nhìn xa. Lê Khả Phiêu chỉ trụ được nửa nhiệm kỳ và rớt đài vì đấu đá nội bộ. Nông Đức Mạnh là sự lựa chọn sai lầm nhất của giới tập quyền Việt Nam, khi lựa chọn một gã thiếu phẩm chất, cả về tri thức, tầm nhìn và độ quyết đoán cần thiết mà một người đứng đầu hệ thống chính trị cần phải có. Do hầu như không có gương mặt nổi trội trong hệ thống chính trị, trong hơn 15 năm, quyền lực bị phản đều giữa các phe phái. Nền chính trị Việt Nam chia năm sẻ bảy bởi các phe nhóm kèn kựa lẫn nhau và chưa bao giờ tập trung thành một mối để phụng sự cho sự phát triển quốc gia.".

Đây là một đánh giá hoàn toàn chính xác, điều đó cho thấy các lãnh đạo cao cấp của Đảng CSVN hiện nay rất yếu về năng lực, phẩm chất và tầm nhìn chiến lược. Nói thẳng ra là họ thiếu một người lãnh đạo có khả năng vượt trội hẳn lên với các phẩm chất của một lãnh tụ. Điều đó cộng với sự chi phối của nền kinh tế thị trường, mà biểu hiện là các nhóm lợi ích sân sau của mỗi người, chính là lý do dẫn đến tư duy cá mè một lứa, tình trạng và không ai coi ai ra gì. Đó chính là nguyên nhân khiến cho vai trò của chức vụ Tổng Bí thư hết sức mờ nhạt.

Về nguyên tắc, ở Việt nam hiện nay nhà nước độc quyền thông tin và toàn bộ hệ thống truyền thông được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Tuy vậy, trên thực tế việc truyền thông nhà nước đã và đang nhường sân cho các tổ chức và cá nhân là chuyện không thể chối cãi, đặc biệt là lĩnh vực xuất bản. Và trên mặt trận truyền thông báo chí cũng không nằm ngoài quy luật đó. Ở Việt nam, ai cũng biết trong các tờ báo lớn A, B, C,D... thì tờ báo nào là của đàn em, là tay chân của các đồng chí lãnh đạo X,Y,Z... Đây là một sự thật không thể phủ nhận và những tờ báo không có các lãnh đạo tay to chống lưng thì không dám đả động đến các vấn đề nhạy cảm. Đặc biệt là vấn đề chống tham nhũng.

Chuyện nội bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng CSVN chia phe, chia phái chắc không cần phải bàn nhiều, vì trên thực tế hầu như ai cũng biết. Việc nội bộ Đảng đang chia thành các phe bảo thủ, cấp tiến hay thân Trung quốc, chống Trung quốc... là thực tế khách quan không thể bác bỏ. Tiêu điểm sự tranh chấp giữa các phe nhóm đó là quyền lực, điều có tính quyết định và bao trùm lên tất cả.

Vụ án Báo Người cao tuổi không phải là một vụ án chính trị

Trong phần cuối của bài viết, tác giả Trần Hồng Tâm đã liệt kê một loạt các vụ án và vụ việc mà theo ông cho là các kỳ án báo chí, từ vụ án Nhân văn - Giai phẩm đến các vụ việc ở báo Văn Nghệ, Sài gòn Giải phóng v.v... Để rồi đi đến kết luận: "Nhìn lại các đời Thủ tướng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, hình như chưa thấy ai nhúng tay vào những vụ đàn áp báo giới. Có lẽ, Nguyễn Tấn Dũng không nằm ngoài quy luật đó."

Thoạt nhìn, những người nhẹ dạ có thể tin điều này, vì theo liệt kê của tác giả cho thấy việc khủng bố hay đe dọa báo chí đều xuất phát từ các lãnh đạo phụ trách vấn đề tuyên giáo và văn hóa tư tưởng. Cần phải hiểu rõ, đây là chức năng của các ban tuyên giáo hay tư tưởng văn hóa, họ đã làm đúng chức năng của họ. Hơn nữa các vụ việc  nêu lên ấy đa phần là mang đậm màu sắc chính trị hướng tới đòi đa nguyên chính trị hay đa nguyên tư tưởng thì việc xử lý như vậy thì chẳng có gì là lạ. Còn bản chất vụ án Báo Người Cao tuổi và TBT Kim Quốc Hoa thì hoàn toàn khác, nó hoàn toán mang tính chống Đảng hay chống đối nhà nước như những dẫn chứng của tác giả Trần Hồng Tâm đưa ra. Dẫu có chống thì đó là việc chống tham nhũng của các quan chức phe chính phủ.

Cái lạ là việc, sau khi khởi tố, thu hồi tên miền của Báo Người Cao tuổi, rút thẻ nhà báo của TBT Kim Quốc Hoa... thì Bộ TT&TT đã tiếp tục lên tiếng cảnh báo "sẽ áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước cứng rắn hơn nếu báo Người cao tuổi tiếp tục có những hành động phản ứng tiêu cực, gây phức tạp tình hình.". Trong lúc ông Thủ tướng, đã vội vã ra thông báo rằng "Việc thanh tra đột xuất tại Báo Người cao tuổi do Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định, thực hiện theo chức năng, thẩm quyền; Thủ tướng Chính phủ không chỉ đạo việc thanh tra này. ". Thử hỏi việc đó đã nói lên điều gì? Nếu nó không phải là cái mà người ta gọi là người có tật thì giật mình thì là cái gì? Cái đặc biệt nhất chính là việc mà tác giả Trần Hồng Tâm không ngờ tới, đó là việc ông Thủ tướng đã vượt rào để sử dụng quyền lực hành pháp nhằm triệt hạ báo chí chống tham nhũng và là điều chưa từng có tiền lệ.

Kết:

Trong thời gian vừa qua, vụ việc Bộ TT & TT xử lý khá mạnh tay đối với Người Cao tuổi kể cả việc khởi tố vụ án hình sự đối với Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa đã được nhiều tờ báo và các tác giả phân tích và bình luận nhiều. Nhìn chung các đánh giá chủ yếu đều cho rằng việc xử lý Báo Người Cao tuổi nhằm mục đích triệt hạ báo chí chống tham nhũng. Báo Người Cao tuổi và Tổng BT - Nhà báo Kim Quốc Hoa chắc chắn thừa biết rằng bàn tay lông lá của ai đã đang xòe ra để bóp họ. Việc Nhà báo Kim Quốc Hoa đã gửi thư khiếu nại tới ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng CSVN, đề nghị ông Tổng Bí thư can thiệp giải oan cho ông là bằng chứng khẳng định điều đó. Không lẽ một nhà báo cao tuổi, nhiều kinh nghiệm từng là tổng BT của 07 tờ báo và Tạp chí đã không biết rằng ai đang đánh họ, để rồi đi cầu cứu hung thủ? Điều đó cho thấy việc cho rằng Tổng BT Nguyễn Phú Trọng và phe Đảng là thủ phạm chính là một nhận định không công bằng, thiếu sức thuyết phục và tính chính trực.

Ở đời, chuyện thích ai, ghét ai là quyền của mỗi người và không ai có quyền ngăn cản hoặc cấm đoán, đặc biệt là đối với những nhà báo biết tôn trọng sự khác biệt và đa nguyên tư tưởng. Tuy vậy, với vai trò của một người cầm bút thì theo tôi, nếu thích ai mà mình muốn ca ngợi họ thì cũng nên kín đáo, đừng để bạn đọc người ta cho rằng mình "nâng bi" cho ai đó một cách lộ liễu quá. Như bài viết "Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau." đã từng để lại ấn tượng như thế là một ví dụ cần phải được rút kinh nghiệm.

Xin khẳng định, lý do viết bài viết này không phải nhằm mục đích để "phản pháo" tác giả Trần Hồng Tâm, mà chỉ muốn trao đổi về một chủ đề dư luận xã hội đang hết sức quan tâm theo dõi.

Ngày 05 tháng 03 năm 2015

© Kami
(Blog RFA)

Dạy và học lịch sử - Sự bế tắc của ngành giáo dục VN

"...Bây giờ tại Việt Nam đảng cộng sản thực sự nắm quyền cai trị toàn diện và tuyệt đối. Như vậy chắc có lẽ họ cũng sẽ can thiệp vào lịch sử để phục vụ cho việc cầm quyền của họ. Kiểu dạy lịch sử như vậy không kích thích được con người bám sát sự thật. - Anh Nguyễn Văn Thạnh..."


Sách giáo khoa môn Lịch Sử

Chuyện học và dạy lịch sử tiếp tục là vấn nạn trong vô vàn những bế tắc của ngành giáo dục nói riêng và các mặt xã hội Việt Nam nói chung

Người học lên tiếng

“Với tầm hiểu biết hạn hẹp của một tay học sinh lớp 12 cũng như trải nghiệm của một đứa đã từng học để thi quốc gia, tôi xin khẳng định một cách chủ quan rằng việc dạy sử hiện nay đang xa rời với những nguyên tắc tối thượng nhất, bản chất nhất làm nên vẻ đẹp thực sự của môn sử. Vì sao tôi lại nói như thế? Vì cá nhân tôi cho rằng một trong những phẩm chất đầu tiên mà một chương trình lịch sử cần có đó là sự khách quan. Thế nào là khách quan? Ta hiểu đơn giản: đó có nghĩa là trung thực với sự thật, có gì nói đấy, không tô hồng, không bôi xấu.”

  Với tầm hiểu biết hạn hẹp của một tay học sinh lớp 12 cũng như trải nghiệm của một đứa đã từng học để thi quốc gia, tôi xin khẳng định một cách chủ quan rằng việc dạy sử hiện nay đang xa rời với những nguyên tắc tối thượng nhất.

» Một học sinh
Đó là phát biểu trong video clip lưu truyền trên mạng của một bạn trẻ tự xưng là học sinh lớp 12. Chỉ trong khoảng hơn 5 phút đồng hồ người bạn trẻ này tóm tắt lý do vì sao những học sinh trung học như bạn không thích thú gì môn lịch sử: đó là sự thiếu trung thực, bưng bít sự thật của sách giáo khoa sử mà các bạn đang phải học để lấy điểm kiểm tra.

Khác với người học sinh thẳng thắn nói lên đánh giá của bản thân đối với môn lịch sử hiện nay, một học sinh lớp 12 khác lại tỏ ra dè dặt, thờ ơ khi được hỏi về việc học sử ở nhà trường mà bạn phải hoàn thành:

“Bình thường thôi, chỉ học lý thuyết, kiến thức bình thường thôi chứ không có đi thực tế. Học ở sách, rồi cứ ghi ghép, ghi chép nên chán thôi.”

Bế tắc của thầy giáo dạy Sử

Chính một giáo viên đang giảng dạy môn lịch sử cấp phổ thông trung học thừa nhận những khiếm khuyết của môn mà thầy giáo này đang dạy, cũng như những khó khăn mà giáo giới như ông phải đối mặt lâu nay dù rằng họ cũng thấy vấn đề và đôi khi muốn giúp thay đổi thực trạng đáng buồn như thế:

Sách giáo khoa được cải cách thường xuyên. Photo courtesy of nxbgd.vn
“Chương trình dài, nhiều thứ, quá sức của một học sinh đi học cần thiết phải hiểu; học sinh không cần phải hiểu nhiều đến mức như thế. Không riêng gì môn lịch sử mà ở Việt Nam các môn học khác cũng không thực tế.

Nhiều khi cũng muốn cải tiến nhưng hệ thống tổ chức hiện nay khó làm lắm. Nội dung người ta không cải tiến, phương pháp người ta cũng chỉ ‘đánh trống bỏ dùi’ thôi; người ta hô hào thế nhưng không có biện pháp gì để tổ chức thực hiện.

Theo tôi nghĩ hiện nay cách thức để làm cho học sinh thích thú, không chán thì không phải khó lắm. Với phát triển của công nghệ hiện nay thì có đủ điều kiện, khả năng để làm cho học sinh thích thú; nhưng chỉ có điều mình làm ra rồi nhưng không có điều kiện để thực hiện thành ra chính giáo viên chán, học sinh chán!”


Đánh giá

Anh Nguyễn Văn Thạnh, một nhà hoạt động xã hội tại Việt Nam, nhìn lại thời học sinh cũng như nay qua quan sát thực tế, đưa ra đánh giá vì sao môn sử đang được giảng dạy tại Việt Nam không thu hút học sinh và ngay cả những giáo viên Sử.

“Trong thời gian qua trên mạng có nhiều thông tin cho rằng học sinh chán học lịch sử. Tôi nghĩ điều này có và bên cạnh đó tôi tin cũng có nhiều học sinh ưa thích môn sử. Như bản thân tôi cũng với chương trình đó, ngoài việc học trên lớp tôi còn đọc ở ngoài và cảm thấy với những câu chuyện lịch sử; từ đó nó dẫn dắt tôi. Hiện nay nguồn thông tin rất đa dạng, rất sẵn. Điều quan trọng là con người của mình có thích chuyện đó hay không.

Tôi nhận xét rằng lịch sử là một bộ môn khoa học của con người, nó có tính cách giống như là một em bé trưởng thành hơn qua những lần té ngã của nó. Nếu ai đó có suy nghĩ hay toan tính nào đó làm cho em bé không học được điều gì trước đó, thì em bé đó mãi là em bé không thể nào lớn được.


  Bây giờ tại Việt Nam đảng cộng sản thực sự nắm quyền cai trị toàn diện và tuyệt đối. Như vậy chắc có lẽ họ cũng sẽ can thiệp vào lịch sử để phục vụ cho việc cầm quyền của họ. Kiểu dạy lịch sử như vậy không kích thích được con người bám sát sự thật.

» Anh Nguyễn Văn Thạnh
Bây giờ tại Việt Nam đảng cộng sản thực sự nắm quyền cai trị toàn diện và tuyệt đối. Như vậy chắc có lẽ họ cũng sẽ can thiệp vào lịch sử để phục vụ cho việc cầm quyền của họ. Kiểu dạy lịch sử như vậy không kích thích được con người bám sát sự thật, phân tích các bài học trong cuộc sống để rồi phụng sự cho ngày hôm nay.

Tôi nghĩ đây có lẽ là một trong những chủ trương của nhà cầm quyền. Bởi vì nếu nắm hết sự thật thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lực mà họ đang có.”


Cách làm

Người ta thường nói ‘hỏi là đã trả lời’. Câu nói này có thể áp dụng vào trường hợp của người học sinh trong video clip vừa có phát biểu.

Nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Thạnh đưa ra ba cách làm nhằm giúp cho môn sử trở thành hấp dẫn học sinh hơn như sau:

Để môn sử hấp dẫn hơn phải đến từ hai chiều: thứ nhất người học phải chịu khó như lớp trẻ bây giờ kêu gọi trên mạng là ‘thông não’ và ‘mở mắt’, tìm kiếm nhiều nguồn tư liệu. Bây giờ với ‘bàn phím’ thì không có gì có thể hạn chế được; chỉ có điều bạn có lòng đam mê hay không mà thôi. Không thể đổ thừa cho thầy cô được.

Cách thức thứ hai hy vọng nhà cầm quyền, những nhà làm giáo dục họ cởi mở hơn để cung cấp sử liệu chính xác hơn để hậu sinh hiểu được giai đoạn đó có những sự việc gì xảy ra; nguyên nhân từ đâu, hạn chế và bài học chỗ nào, chính nghĩa nằm ở đâu thì nó sẽ giúp người ta hứng thú học lịch sử hơn.


Phó giáo sư-tiến sĩ Trần Nam Tiến, thuộc Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh cho biết hoạt động ‘tham quan thực tế’ của khoa đang thực hiện là cách thức dạy sử mà hầu như ai cũng thấy cần phải tiến hành.

Hiện nay quá trình đưa sinh viên đến các di tích lịch sử, bảo tàng là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của quá trình đào tạo; ít nhất tại đơn vị tôi đang làm việc là khoa Sử trường Đại học Khoa học- Xã hội Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Khoa Sử trong thời gian qua xem việc hướng sinh viên đi thực tế đến những di tích lịch sử, đến những nơi có nhân chứng lịch sử để làm việc, nghiên cứu, để ‘thực tế’ rất là nhiều. Trong khóa học bốn năm họ được đi ít nhất 5-6 lần. Thậm chí có những lần đi xuyên Việt, đi một chuyến rất dài đến các di tích rất quan trọng ở miền Trung, miền Bắc. Hiện nay công tác đào tạo gắn với thực tiễn rất lớn. Tôi là người tham gia trực tiếp trong những chuyến đi đó. Tôi cũng là người tham gia tổ chức những chuyến đi đó nên tôi khẳng định đây là vấn đề hiện nay chúng tôi đã triển khai và đạt được kết quả rất tốt khiến cho học sinh; đặc biệt các bạn sinh viên nhận thức về lịch sử tích cực hơn rất nhiều.

Những phương pháp lẽ ra phải thực hiện trong công tác giảng dạy môn lịch sử như đang phó giáo sư- tiến sĩ Trần Nam Tiến vừa cho biết dường như bị lãng quên lâu nay. Tuy vậy, nếu có được thực hiện với tình trạng lịch sử bị bóp méo như người học sinh trong video clip nêu ra thì liệu việc làm đó có mang lại lợi ích như mong muốn hay không.

Gia Minh
phóng viên RFA
Theo RFA

Đảng viên nghĩ gì về chuyện liên minh?

"...Chấp nhận liên minh người cộng sản phải chấp nhận một tình thế mới, họ có thể mất quyền lợi cá nhân lẫn vị trí trong chiếc ghế quyền lực nhưng bù lại đất nước sẽ thoát ra khỏi vòng kềm tỏa nặng nề của Trung Quốc với họa mất nước nhãn tiền..."



Họa mất nước nhãn tiền

Chấp nhận liên minh người cộng sản phải chấp nhận một tình thế mới, họ có thể mất quyền lợi cá nhân lẫn vị trí trong chiếc ghế quyền lực nhưng bù lại đất nước sẽ thoát ra khỏi vòng kềm tỏa nặng nề của Trung Quốc với họa mất nước nhãn tiền.

Trước việc Trung Quốc xây dựng một loạt các căn cứ quân sự trên các dãy đão tại Trường Sa mặc dù nhà nước chưa có một tuyên bố gì khác hơn so với trước đây nhưng trên báo chí chính thống nhiều ý kiến của các đảng viên cao cấp cho thấy sự uất ức lẫn lo ngại cho tình hình an ninh đất nước đang là mối lo hàng đầu hiện nay.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, đại biểu Quốc hội liên tiếp nhiều nhiệm kỳ đã tuyên bố rằng hành động xây dựng của Trung Quốc còn nguy hiểm hơn dàn khoan HD-981 trước đây. Nó cho thấy quyết tâm dùng sức mạnh quân sự để khống chế Việt Nam, khẳng định đường lưỡi bò phi pháp của họ. Trước nguy cơ này, trí thức, đảng viên không thể im lặng theo nhà nước mà không ít người trong đảng cho rằng liên minh với các nước, đặc biệt là Mỹ, sẽ kéo Việt Nam ra khỏi tầm tay Trung Quốc và đây là cơ hội khó kiếm lần thứ hai.

  Trong giai đoạn này tôi thấy Hoa Kỳ họ sẵn sàng chìa tay ra để nắm lấy bàn tay Việt Nam để cùng với Việt Nam giữ lấy Biển Đông. Việc giữ Biển Đông không chỉ vì quyền lợi của Việt Nam mà còn vì quyền lợi Hoa Kỳ.

-TS Nguyễn Thanh Giang
TS Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến kiên trì trong hàng chục năm qua cho biết nhận xét của ông:

“Trong giai đoạn này tôi thấy Hoa Kỳ họ sẵn sàng chìa tay ra để nắm lấy bàn tay Việt Nam để cùng với Việt Nam giữ lấy Biển Đông. Việc giữ Biển Đông không chỉ vì quyền lợi của Việt Nam mà còn vì quyền lợi Hoa kỳ. Việc ngăn chặn âm mưu bành trướng Đại Hán cũng là quyền lợi không chỉ là của toàn nhân loại mà là quyền lợi cũng sát sườn của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ phải ngăn chặn cho được sức vươn lên cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc.

Với một điều kiện thuận lợi như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam cần và phải xúc tiến nhanh việc liên minh liên kết với Hoa Kỳ. Liên minh với Hoa Kỳ hay bất cứ nước nào trên thế giới không phải để chống Trung Quốc mà để giữ gìn lãnh hải lãnh thổ của mình. Đấy là liên minh chính đáng cần phải tuyên bố và thực hiện. Tiếc rằng cho đến bây giờ cái chủ trương đúng đó không được thực thi và Việt Nam vẫn giữ một khoảng cách khá xa đối với Hoa Kỳ đồng thời lại vẫn hô những khẩu hiệu hoàn toàn vô nghĩa lý là 16 chữ vàng 4 tốt. Điều này lệ thuộc vào ý thức hệ đã trở nên lạc hậu phi thực tế.”


Vai trò của Đảng sẽ ra sao?

Trở ngại quan trọng nhất là yếu tố ý thức hệ mà đảng cộng sản hai nước liên quan quá chặt chẽ với nhau đã khiến cho Ban chấp hành Đảng cộng sản Việt Nam không đủ quyết tâm tách rời ra khỏi quỹ đạo của nó mặc dù cả hai bên đều biết rằng chủ nghĩa xã hội nay chỉ còn là cái vỏ bọc đã lỗi thời, lạc hậu. Trung Quốc chạy theo mục tiêu bá quyền nước lớn và Việt Nam nằm trên con đường xâm lấn của Bắc Kinh. Chỉ có hai cách tránh họa xâm lăng của Trung Quốc, một là thỏa hiệp nhắm mắt chờ đợi một biến cố nào đó xảy ra, cam chịu mọi sự ép bức trong đó mất dần chủ quyền Biển đảo, một phần xương thịt quan trọng của đất nước.

Pano tuyên truyền cho ngày thành lập ĐCSVN tại Hà Nội được chụp hôm 27/2/2013
Thứ hai, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, dứt khoát chặt đứt 16 chữ 4 tốt quay hẳn về phía khác và chấp nhận liên minh với các nước để tạo ra vòng đai bảo vệ lấy mình bằng sức mạnh liên minh. Để từ đó yên tâm xây dựng thể chế chính trị nào phù hợp với ý nguyện toàn dân vì một đất nước thật sự phú cường thịnh vượng.

Rào cản lớn nhất cho vấn đề liên minh vẫn từ cấp cao nhất trong Bộ chính trị. Quyết sách liên minh mặc dù là lợi ích to lớn cho đất nước nhưng khi quyết định chọn lựa phương cách này thì Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện với thử thách là liệu vai trò của Đảng sẽ ra sao khi liên minh hình thành với hàng tá điều mà Đảng phải từ bỏ.

Ông Lê Công Giàu, một đảng viên kỳ cựu, nguyên Phó Bí thư thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhận định của ông trong tình hình hiện nay:

“Hiện nay tình hình Việt Nam đang đòi hỏi sự đổi mới, một sự đổi mới cơ bản chứ không phải từng chút hay từng phần, tất nhiên là phải có thời gian. Bây giớ số trí thức trong đảng suy nghĩ của họ là không phải bám vào những học thuyết, những lý thuyết không còn phù hợp. Người ta căn cứ trên thực tế những việc gì làm có lợi cho đất nước thì người ta sẵn sàng chấp nhận. Không như cách đây vài chục năm tình hình nó khác, suy nghĩ nó khác còn bây giờ người ta sẵn sàng từ bỏ những cái cũ để đi theo cái mới. Tất nhiên hợp tác phải thật sự đem lại lợi ích cho đất nước vì chúng ta biết rằng bất cứ nước nào thì họ cũng sẽ tính tới quyền lợi của họ trước do đó những cái hợp tác, quan hệ nào mà thật sự đem lại lợi ích cho đất nước thì tôi nghĩ họ sẵn sàng, ngay bản thân tôi cũng sẵn sàng.”

Ông Lê Công Giàu xác định một số lớn nhân sĩ trí thức, ngay cả đảng viên cũng đều muốn thay đổi theo hướng liên minh, vì vậy họ chấp nhận không cần quyền lợi vì sự an nguy của dân tộc là trên hết, ông Giàu cho biết:

“Đối với người dân, đối với những anh em trí thức qua nói chuyện thì tôi hiểu anh em rằng tình hình bây giờ nó đã thay đổi nhiều lắm rồi, thế giới bây giờ nó khác với cách đây vài chục năm cho nên bây giờ mọi suy nghĩ, mọi hành động người ta căn cứ vào trong những tình hình mới. Đối với anh em trí thức ở Việt Nam họ nghĩ rằng là trong tình hình hiện nay cái gì có lợi cho đất nước thì đều nên làm.

Trong xu thế hiện nay Trung Quốc đang gây khó khăn như thế không thể nào hợp tác hay nghiêng về phía Trung Quốc được mà phải đi với những nước cùng có hướng không để cho Trung Quốc chi phối, có những hành động có hại cho tình hình chung của từng nước cũng như cả thế giới. Hiện nay những suy nghĩ như vậy đang rất phổ biến, người ta căn cứ vào những hành động có lợi cho đất nước thì người ta sẵn sàng ủng hộ.”


  Theo tôi nghĩ thì chắc là thế nào cũng có sự biến động phải thay đổi chứ không thể cứ y như cũ được là vì tôi nói thật người cộng sản cũng hết sức cơ hội chứ không phải là cái anh trung thành.

-Ông Trần Đĩnh
TS Nguyễn Thanh Giang cho rằng quyết định tham gia vào một liên minh để giữ gìn bờ cõi là tất yếu và không thể từ khước dù bất cứ lý do gì:

“Tiếng gọi thiên liêng của tổ quốc, tiếng gọi thiêng liêng của dân tộc là phải nhanh chóng thiết lập mối liên minh liên kết với những lực lượng tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là đối với Hoa Kỳ để giữ lấy chủ quyền, giữ lấy lãnh hải lãnh thổ của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm cho được nếu không thì Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải có tội lớn đối với đất nước và dân tộc này. Cho nên nếu mà vì liên minh liên kết với Hoa Kỳ mà đảng có thiệt thòi quyền lợi này quyền lợi khác thì tôi khuyên đảng và dặc biệt là ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải biết hy sinh một phần quyền lợi của mình để giữ lấy giang sơn tổ quốc. Giữ lấy quyền lợi của đất nước của dân tộc.”

Ông Trần Đĩnh, một đảng viên lâu đời và là người chấp bút cho việc viết tiểu sử chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả của quyển Đèn Cù mô tả những câu chuyện thâm cung bí sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng người cộng sản không phải lúc nào cũng trung thành với ý tưởng hay chủ thuyết mà họ đưa ra. Sau bao nhiêu năm sống chung nhà văn Trần Đĩnh cho rằng người cộng sản sẽ chấp nhận một trào lưu khác mà theo ông đó là chủ nghĩa cơ hội:

“Theo tôi nghĩ thì chắc là thế nào cũng có sự biến động phải thay đổi chứ không thể cứ y như cũ được là vì tôi nói thật người cộng sản cũng hết sức cơ hội chứ không phải là cái anh trung thành. Ta cứ xem lịch sử đảng thì thấy nay theo người này mai theo người kia là bình thường. Theo tôi đến chỗ bế tắc thì người ta rất dễ đi đến chỗ phải tính lại chứ không phải cứ tập trung bảo thủ đến cùng.

Lịch sử đã chứng tỏ rằng cộng sản lúc cần đến thì rất dễ thay đổi. Đang là đầu tàu cách mạng người ta có thể đánh đầu tàu cách mạng được th2i bây giờ đi với Mỹ với phương Tây theo tôi không có gì ghê gớm cả. tại vì thế này đảng không còn nguyên vẹn một khối nữa, nó có những biến hóa làm cho họ phải suy nghĩ lại, họ không còn là một khối thống nhất, chưa bao giờ có chuyện nội bộ mâu thuẫn đánh nhau như vậy.”


Biến cố chính trị lớn nhất trong năm có lẽ là chuyến đi Hoa Kỳ sắp tới của Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù chuyến đi này chỉ là hình thức ngoại giao nhưng qua nó giới quan sát dễ dàng suy luận rằng ông Trọng dù sao cũng đang chấp nhận một vai trò khác trong cuộc chiến âm thầm với Trung Quốc mà ông luôn được xem là tiên phong trong việc giữ gìn mối hữu nghị.

Khi được hỏi liệu ông TBT có nhân cơ hội này mà xoay trục về hướng khác hay không, ông Trần Đĩnh người nhiều năm sống và nghiên cứu về Trung Quốc cho biết cảm nghĩ của ông:

“Theo tôi nghĩ rất có khả năng là vì Trung Quốc đang rất căng với Hoa kỳ mà lại đồng ý đi thì theo tôi đấy là tín hiệu ông ấy muốn tỏ rằng ông ấy không phải như ngưới ta nói chỉ kiên trì muôn đi với Trung Quốc còn ông ấy thật tình như thế nào thì không biết.

Trung Quốc nó có cái chữ “hình thế bức nhân” trong chính trị. Hình thế là cái situation, cái tình hình. Bức nhân là nó bắt buộc con người không thể không làm.”


Nhân sĩ trí thức cho rằng cái “không thể không làm” đó sẽ là khởi điểm cho một quyết định có tính cách xoay đổi cả một chính sách. Đây là cơ hội vô cùng to lớn nếu TBT Nguyễn Phú Trọng nắm lấy và khai thác. Nó cũng sẽ thay đổi tất cả mọi ác cảm dành cho ông qua thành kiến cho rằng ông quá thân với Trung Quốc đến nỗi vuột cả cơ hội lớn của dân tộc.

Mặc Lâm
phóng viên RFA
Theo RFA

'Tony Blair thẳng thắn với lãnh đạo VN'

"...Tôi nghĩ rằng đang có ý kiến thảo luận thì cần có sự khách quan, bình tĩnh, cầu thị để nhìn nhận, thảo luận và đi đến quyết định chính xác, phù hợp thực tế, chứ không phải vì một người cầm quyền đưa ra quyết định thì quyết định đó được ngẫu nhiên xem là đúng và những ai phản đối đều bị xem là thù địch..."

Cựu thủ tướng Anh, ông Tony Blair, trong hội thảo ngày 4/3 tại Hà Nội

Cựu Thủ tướng Anh đã bày tỏ quan điểm thẳng thắn trước các lãnh đạo Việt Nam về vấn đề cải cách kinh tế, một chuyên gia trong nước cho biết.

Nhận định trên được Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, một trong các chuyên gia có mặt tại hội thảo do ông Tony Blair và Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh đồng chủ trì tại Hà Nội hôm 4/3, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC.

Hội thảo, với tên gọi "Vai trò mới của Doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam", còn có sự tham gia của nhiều đại diện của các tập đoàn nhà nước, theo truyền thông Việt Nam.

BBC: Ông nhận định chung như thế nào về các ý kiến mà cựu thủ tướng Anh đưa ra trong hội thảo ngày 4/3, thưa ông?

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Ông Tony Blair đã đến Việt Nam từ năm 2012 và đã gặp Thủ tướng Việt Nam.

Đến năm 2013 thì công ty Tony Blair Associates đã lập một văn phòng cạnh Bộ Kế hoạch Đầu tư và đã có tham vấn, đóng góp ý kiến về các văn bản cổ phần hóa.

Mới đây công ty này cũng cố vấn về nghị định hợp tác công tư (PPP).

Hôm 4/3, ông Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh và ông Tony Blair đã đồng chủ trì một hội thảo về vai trò mới của doanh nghiệp nhà nước.

Công ty của Tony Blair đã có một bản báo cáo khá dài, với tính chất chuyên môn đáng tin cậy.
Ông Tony Blair sau đó cũng đã có nhiều ý kiến trao đổi thẳng thắn và mang tính xây dựng.

Cuối giờ chiều hôm qua thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp ông Blair và hứa sẽ tiếp tục hợp tác và mong đợi những ý kiến tư vấn của ông.

BBC: Ông Tony Blair nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp cải cách khối doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh doanh nghiệp tư nhân lên cùng lúc để tránh cho nền kinh tế bị "hụt hẫng". Theo ông thì khối doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam đã đủ sức thay thế doanh nghiệp nhà nước hay chưa?

  Doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam thiếu sức cạnh tranh, thiếu sự chuẩn bị để cạnh tranh trong môi trường kinh tế trong thời gian tới đây, và tôi thấy đây là điều rất đáng tiếc.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Việc cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thì chậm. Cái chậm đó có nhiều nguyên nhân.

Sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân cũng chậm và không được như mong muốn.

Năm 1999, khi luật doanh nghiệp nhà nước được ban hành và sau đó có sự bùng phát mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân. Nhưng rất tiếc doanh nghiệp tư nhân đã không phát triển theo hướng chúng ta mong đợi.

Từ năm 2007, sau khi gia nhập WTO, lẽ ra Việt Nam phải thay đổi cách quản lý và cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên Việt Nam lại đi đầu tư vào bất động sản, đầu tư vào thị trường chứng khoán - các hoạt động mang tính đầu cơ.

Đặc biệt là chính quyền đã mở rộng quyền đầu tư của các tập đoàn nhà nước để các tập đoàn nhà nước lần đầu tiên tham gia vào hoạt động đầu cơ chứ không phải các lĩnh vực chuyên môn do các tập đoàn đó phụ trách.

Ví dụ như tập đoàn dầu khí lại đi đầu tư vào bất động sản, tài chính và chứng khoán.

Điều này làm cho các doanh nghiệp, từ doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân đều hoạt động theo hướng tìm kiếm các mối 'quan hệ' và tìm kiếm các sự chênh lệch giá - giá đất, giá khai thác rừng, khai thác mỏ và các loại kinh doanh khác.

Từ năm 2007 đến năm 2011 thì lạm phát tăng rất cao, lãi suất ngân hàng tăng đến 21%, khiến các doanh nghiệp tư nhân không nhận được sự ưu đãi, tín dụng đặc biệt nên đã bị suy yếu đi rất nhiều.

Cho đến nay, doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam thiếu sức cạnh tranh, thiếu sự chuẩn bị để cạnh tranh trong môi trường kinh tế trong thời gian tới đây, và tôi thấy đây là điều rất đáng tiếc.

Công ty Tony Blair Associate đã nhiều lần cố vấn về chính sách cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam

BBC: Ông Tony Blair nhận xét quá trình tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam vẫn diễn ra chưa hiệu quả. Ông có thể giải thích rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này?

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được tiến hành thí điểm từ năm 1991-1992 và đã có các nỗ lực để đẩy mạnh trong những năm sau đó.

Nhưng trong thời gian 2007-2011 thì quá trình cổ phần hóa chậm lại rất nhiều, vì các tiêu chí về mặt tài chính, tiền tệ và sự an toàn trên thị trường chứng khoán vô cùng mong manh, trong lúc lãi suất và lạm phát tăng lên quá cao.

  Chính quyền đã mở rộng quyền đầu tư của các tập đoàn nhà nước để các tập đoàn nhà nước lần đầu tiên tham gia vào hoạt động đầu cơ chứ không phải các lĩnh vực chuyên môn do các tập đoàn đó phụ trách
Điều này khiến giới đầu tư trở nên dè dặt trong việc mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước được đưa lên thị trường chứng khoán. Thế nên quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước bị tắt nghẽn.

Năm 2012, chính phủ đã có quyết định đẩy mạnh công cuộc cổ phần hóa và dự kiến trong 3 năm 2013, 2014, 2015 có thể cổ phần hóa 432 cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cho đến nay tốc độ cổ phần hóa đó chưa đạt được như mong đợi.

Dự kiến trong năm 2015 sẽ phải cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước. Đó là tốc độ chưa từng thấy và tôi nghĩ phải chờ xem có đạt được hay không, nhưng theo tôi là rất khó khăn.

Điểm thứ hai là việc cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước đều không có luật. Các nước khác đều có luật về quá trình cổ phần hóa. Thậm chí có các doanh nghiệp cổ phần hóa mà có ý nghĩa đặc biệt lớn thì phải có luật riêng cho doanh nghiệp đấy.

Ở Việt Nam thì chưa có khung pháp luật đó.

Hiện nay Bộ Giao thông Vận tải đang muốn đẩy mạnh việc nhượng lại các cảng hàng không như cảng Phú Quốc, hay hiện giờ có hai hãng đang muốn mua lại cảng hàng không Nội Bài.

Cảng hàng không là thứ thể hiện uy tín quốc gia và liên quan rất nhiều đến lợi ích cộng đồng.
Vì vậy rất mong Quốc hội sẽ ủng hộ và sẽ ban hành luật về cổ phần hóa để tạo khuôn khổ pháp lý giúp thực hiện cổ phần hóa một cách an toàn.

BBC: Nhân việc ông Blair đề cập tầm quan trọng của việc thực hiện cổ phần hóa một cách minh bạch, đúng cách thức. Mới đây, đợt IPO của Vietnam Airlines đã bị nhiều nhà đầu tư nước ngoài chỉ trích vì số cổ phiếu đưa ra thị trường rơi hết vào tay hai ngân hàng trong nước. Theo ông thì liệu sắp tới điều này có thay đổi? Nhất là khi xét đến vai trò cố vấn hiện nay của ông Blair với Bộ giao thông Vận tải Việt Nam?

  Không phải vì một người cầm quyền đưa ra quyết định thì quyết định đó được ngẫu nhiên xem là đúng và những ai phản đối đều bị xem là thù địch.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
Việc cổ phần hóa của Vietnam Airlines thì nhà nước vẫn giữ 75% sở hữu. Trong số 25% cổ phần bán ra thì 24% do các ngân hàng chủ nợ của Vietnam Airlines mua lại, vì vậy số cổ phần bán ra đối với các nhà đầu tư nước ngoài là quá nhỏ, không ai muốn mua.

Nhà đầu tư nước ngoài muốn là việc mua cổ phần sẽ đi kèm với sự đại diện của họ và có sự cải cách mạnh mẽ về mặt nhân sự và quản trị doanh nghiệp.

Với số cổ phần bé như vậy thì họ chỉ có thể gửi tiền của mình vào đó, và để cho nhân sự cũ kinh doanh bằng đồng tiền của họ. Đó là điều mà họ không sẵn sàng làm.

Mô hình cổ phần hóa của Vietcombank là mô hình tốt hơn. Ngân hàng Mizuho của Nhật Bản đã có vai trò là cổ đông chiến lược, có đại diện ngồi tại hội đồng quản trị của Vietcombank và giúp ngân hàng này thay đổi theo hướng tốt hơn.

Gần đây đại diện của IMF đã nói việc cổ phần hóa cần được thực hiện thiết thực hơn, ở đây có ý là phải để cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài ngồi trong hội đồng quản trị để có thay đổi về nhân sự, thay đổi về quản trị doanh nghiệp thì mới có thể cải thiện hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa.

BBC: Ông Blair nói 'cải cách mà không vấp phải phản đối thì không phải cải cách tốt'. Ông nghĩ gì về nhận định này, và liệu Việt Nam có vượt qua được những mâu thuẫn để đẩy mạnh cải cách hay không?

Theo tôi thì ý kiến của ông Blair rất thẳng thắn. Cải cách mà không có ai phản đối cả thì coi như cải cách đó không đụng chạm tới ai, tức là cải cách đó không có ý nghĩa gì rõ ràng cả.

Đó là một thái độ sẽ giúp cho phía Việt Nam nhìn nhận sự phản đối một cách xây dựng, chứ không phải xem mọi ý kiến phản đối là của thù địch, phản động.

Rất nhiều vấn đề phức tạp trong cuộc sống mà người ta có nhiều ý kiến khác nhau, cần được tôn trọng.

Tôi nghĩ rằng đang có ý kiến thảo luận thì cần có sự khách quan, bình tĩnh, cầu thị để nhìn nhận, thảo luận và đi đến quyết định chính xác, phù hợp thực tế, chứ không phải vì một người cầm quyền đưa ra quyết định thì quyết định đó được ngẫu nhiên xem là đúng và những ai phản đối đều bị xem là thù địch.

Theo BBC