VANEWS
Tin Nóng :
Latest Post

Đăng bởi BTV VANEWS on Chủ Nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2015 | 26.4.15

Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc Lou Jiwei tại lễ ký kết các cơ sở hạ tầng châu Á Ngân hàng Đầu tư (AIIB) ở Bắc Kinh vào ngày 24 Tháng Mười, 2014.


Ngày 15/4/2015 tin cho biết có đến 57 quốc gia trên thế giới được công nhận là thành viên sáng lập của ngân hàng phát triển hạ tầng Châu Á, gọi tắt theo tiếng Anh là AIIB, do Trung Quốc khởi xướng. 57 quốc gia này mang tính chất rất đa dạng, từ những quốc gia nghèo khó ở châu Phi cho đến những cường quốc ở Châu Á và châu Âu như Hàn Quốc, Anh… Hai quốc gia hùng mạnh về kinh tế là Hoa Kỳ và Nhật bản không tham gia vào ngân hàng này. Kính Hòa ghi nhận ý kiến các nhà quan sát Việt Nam trong và ngoài nước về vấn đề này cũng như những lợi ích mà Việt Nam có thể có.

Hệ thống mới mang màu sắc Trung Quốc?

Việc thành lập AIIB do Trung Quốc khởi xướng nằm trong kế hoạch lâu dài của nước này nhằm sử dụng thặng dư ngoại tệ của mình để gây ảnh hưởng trên thế giới. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh từ Hà nội nhận xét về chiến lược này của Trung Quốc:

  Tôi nghĩ rằng việc Trung Quốc dùng cái vốn ngoại tệ thặng dư của mình để đầu tư vào các nước khác để gia tăng bành trướng ảnh hưởng của mình, để rồi từ đấy để khai thác tài nguyên, bù đắp những cái mất cân đối của Trung Quốc, thì theo tôi đấy cũng là một cách đầu tư thông minh chứ không phải không.

» TS Lê Đăng Doanh
“Tôi nghĩ rằng việc Trung Quốc dùng cái vốn ngoại tệ thặng dư của mình để đầu tư vào các nước khác để gia tăng bành trướng ảnh hưởng của mình, để rồi từ đấy để khai thác tài nguyên, bù đắp những cái mất cân đối của Trung Quốc, thì theo tôi đấy cũng là một cách đầu tư thông minh chứ không phải không. Rồi trên cơ sở đó họ sẽ giảm bớt sự chênh lệch, những bất bình đẳng trong xã hội Trung Quốc. Điều đó là điều mà ông Lý Khắc Cường nói là một cải cách đau đớn, như cầm dao xẻo thịt mình, chứ không dễ dàng như cắt móng tay. Tôi thấy đó là điều hết sức đáng chú ý trong cách tiếp cận của Trung Quốc.”

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, từ miền Nam California nói rằng dự tính dùng sức mạnh tài chính để gây ảnh hưởng ra các nước khác trong thời gian qua không đạt được thành công, nhất là những tham vọng của họ ở Venezuela và Miến Điện đã hoàn toàn thất bại. Ông cho rằng họ đang có một cách tiếp cận mới:

“Bây giờ họ muốn làm ra một cái có tính chất đa quốc gia, để các nước cùng hùn hạp với họ mà chia sẻ các rủi ro. Cái thứ hai là để các nước khác có thể đóng góp những chuyện kỹ thuật khá hơn để thực hiện những dự án hạ tầng cơ sở.”

Một vấn đề khác được nhiều người bàn tán xung quanh việc thành lập ngân hàng này là vấn đề ảnh hưởng chính trị tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Tháng 10 năm ngoái khi những tin tức đầu tiên về việc thành lập ngân hàng này được đưa ra, Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm, từ Trung tâm nghiên cứu chiến lược Châu Á Thái Bình Dương tại Hawaii nói với chúng tôi:

Ảnh minh họa
“Câu chuyện là vấn đề phe phái. Phe phái ở chỗ là Mỹ có một trật tự khu vực của Mỹ, theo cái nhìn của Mỹ. Bây giờ Trung Quốc lập ra một thể chế mới để cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quĩ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng phát triển Châu Á.”

Phát biểu về những trật tự khu vực và trên thế giới về tài chính và kinh tế, hôm 22/4/20015 tại Hội nghị thượng đỉnh Á Phi tổ chức ở Jakarta, Tổng thống mới đắc cử của Indonesia là ông Joko Widodo nói rằng trật tự tài chính cũ đã lỗi thời. Với tư cách là người đứng đầu quốc gia đông dân nhất Đông Nam Á, hồi tháng ba vừa qua ông nói trong chuyến thăm Bắc Kinh rằng ông ủng hộ ngân hàng AIIB.

Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập
 
Việt Nam cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á đã sớm gia nhập dự án ngân hàng AIIB do Trung Quốc khởi xướng. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói với chúng tôi rằng nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng tại Châu Á còn rất lớn, và việc ra đời một ngân hàng mới là điều tích cực.

“Tôi nghĩ rằng là việc Trung Quốc có một thực thể về mặt tài chính, và có một nền kinh tế mạnh là một điều không thể phủ nhận. Mạnh ở đây là một nền kinh tế có qui mô lớn. Việc các nước khác cùng tham gia sẽ làm cho định chế tài chính này công khai minh bạch hơn. Họ sẽ có tiếng nói để làm cho Trung Quốc có cái cách ứng xử phù hợp với các định chế tài chính quốc tế hơn. Hơn nữa có thêm một ngân hàng phát triển như ngân hàng Đầu tư phát triển hạ tầng Châu Á, thì sẽ tạo nên một sự cạnh tranh với các định chế tài chính cũ như là ngân hàng Thế giới, ngân hàng phát triển Châu Á, và tôi nghĩ là cạnh tranh thì tốt hơn là không có cạnh tranh.”

  Đối với một nước lớn như Trung Quốc thì ảnh hưởng quốc tế và khu vực của họ là một điều khó có thể tránh khỏi. Tôi nghĩ là nếu chúng ta gắn nhiều quá vấn đề chính trị vào kinh tế thì khó có thể hài hòa được trong vấn đề phát triển.

» TS Nguyễn Quang A
Năm ngoái khi được hỏi về khả năng Việt Nam vay tiền từ AIIB, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói với chúng tôi:

“Đối với một nước lớn như Trung Quốc thì ảnh hưởng quốc tế và khu vực của họ là một điều khó có thể tránh khỏi. Tôi nghĩ là nếu chúng ta gắn nhiều quá vấn đề chính trị vào kinh tế thì khó có thể hài hòa được trong vấn đề phát triển. Với Việt Nam cũng cần khôn khéo để tận dụng tất cả những lợi thế của mối quan hệ của Trung Quốc với khu vực.”

Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm cũng nói là việc có thêm vốn thì tốt cho người có nhu cầu đi vay. Nhưng bên cạnh đó ông thận trọng về sự chi phối của Trung Quốc:

“Bây giờ Trung Quốc lập riêng một ngân hàng mà Trung Quốc chi phối với những tiêu chí riêng của họ. Tiêu chí của Trung Quốc thì người Việt Nam quá quen thuộc rồi, vì chơi với Trung Quốc bao nhiêu năm, và Trung Quốc bây giờ chi phối kinh tế Việt Nam như thế thì sẽ biết tiêu chí của Trung Quốc như thế nào. Tức là họ sẽ tỏ ra dễ dãi cho anh trong rất nhiều cái, nhưng cuối cùng lại là sợi dây thòng lọng cột chặt anh vào họ, và biến anh trở nên lệ thuộc vào họ.”

Ông Lê Đăng Doanh có ý kiến tích cực hơn, ông cho rằng với sự tham gia của nhiều quốc gia, với những đồng vốn khác nhau, chuyện Việt Nam vay tiền từ ngân hàng mới này sẽ bớt rủi ro:

“Tôi nghĩ rằng đây không thuần túy vốn của Trung Quốc, mà Việt Nam sẽ xem xét thận trọng, và có thể vay tiền để phát triển kết cấu hạ tầng của Việt Nam. Điều đó tôi cho rằng cũng cần làm để phát triển.”

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, người theo sát các động thái về tài chính của Trung Quốc trong những năm gần đây cũng cho rằng AIIB cũng là cơ hội cho Việt Nam nhưng cần cẩn trọng:

“Tôi nghĩ là Việt Nam nên tham dự, và lần này thì nên học những bài học của quá khứ, vì Việt Nam từng cho Trung Quốc thực hiện những hợp đồng đầu tư hạ tầng cơ sở cho Việt Nam với rất nhiều tai họa về kinh tế cho Việt Nam. Mà lúc đó không ai biết vì Việt Nam cứ chuyên làm chuyện lén lút với Trung Quốc, người dân Việt Nam còn không biết huống chi các quốc gia khác.”

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa cũng nêu một khả năng thống trị trong tương lai của Trung Quốc trong định chế tài chánh này sẽ tạo điều kiện cho Trung Quốc ép các công ty kỹ thuật hạ tầng khác để giành hợp đồng cho các công ty Trung Quốc, như họ đã từng làm ở nhiều nơi. Việt Nam cũng từng nhiều lần chịu những hậu quả không tốt khi giao các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho các nhà thầu Trung Quốc.

Ngoài ra giới quan sát còn lo ngại và sự chi phối của Trung Quốc sẽ làm cho các tiêu chuẩn về môi trường trong các dự án bị xem nhẹ, cũng như vai trò của những cư dân địa phương liên quan đến dự án bị bỏ qua. Và cũng như những công ty kinh tế của Trung Quốc, ngay cả ở hình thức tư nhân cũng được xem là gắn chặt với chính quyền Trung Quốc, người ta lo ngại rằng AIIB sẽ bị đảng cộng sản Trung Quốc chi phối. Giới thạo tin cho biết là hiện vị Tổng giám đốc tạm quyền của AIIB là ông Kim Lập Quân từng là Thứ trưởng Bộ tài chính Trung Quốc, và cũng từng là thành viên Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, một định chế nhà nước. Tin cho hay là ông Kim sẽ tìm kiếm phân nửa số nhân viên của AIIB từ Bộ tài chính Trung Quốc.

Kính Hòa
phóng viên RFA
Theo RFA

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Gạc Ma, ảnh chụp từ vệ tinh ngày 15/11/2014


Hoạt động bành trướng của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông gây quan ngại cho không chỉ đối với những quốc gia trong khu vực mà còn nhiều nước khác trên thế giới.

Ngoài sự lên tiếng, phản đối của cơ quan chức năng, một số người Việt trong và ngoài nước vào ngày 19 tháng tư vừa qua cho công khai một thư ngỏ kêu gọi mọi người cùng ký tên như là một đóng góp thêm vào cho công cuộc đấu tranh đòi hỏi chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc ngưng những hành động lấn lướt của họ tại khu vực biển tranh chấp.

Cấu trúc thư

Nhóm có tên Southeast Asia Sea United Front, tạm dịch Mặt trận Đoàn kết Biển Đông Nam Á, chủ xướng lá thư kêu gọi những người quan tâm ký tên với mục đích tối hậu được cho biết là ngăn chặn hoạt động của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

Cô Ann Đỗ, một trong những người tham gia soạn thảo bức thư, cho biết lại cấu trúc chính của lá thư:

  Trong lá thư có cấu trúc thứ nhất giới thiệu một phần lịch sử của Biển Đông, thứ hai là tình hình hiện tại, thứ ba là mức đe dọa quân sự, thứ tư là vấn đề môi trường ở Biển Đông bị phá hoại nghiêm trọng, và thứ năm có đưa ra một số đề nghị. Sau cùng là những tài liệu tham khảo và mọi người ký tên.

» Cô Ann Đỗ
“Trong lá thư có cấu trúc thứ nhất giới thiệu một phần lịch sử của Biển Đông, thứ hai là tình hình hiện tại, thứ ba là mức đe dọa quân sự, thứ tư là vấn đề môi trường ở Biển Đông bị phá hoại nghiêm trọng, và thứ năm có đưa ra một số đề nghị. Sau cùng là những tài liệu tham khảo và mọi người ký tên.

Trong phần đề nghị chúng tôi đưa ra ủng hộ đối với thư của Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain và hai vị thượng nghị sĩ nữa là Hoa Kỳ nhanh có những biện pháp làm giảm hay ngưng các biện pháp trái phép của Trung Quốc.

Thứ hai là chúng tôi yêu cầu Trung Quốc phải dừng ngay các hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo và xây dựng những căn cứ quân sự đe dọa tự do hàng hải trên tuyến đường hàng hải ở Biển Đông Nam Á.

Chúng tôi cũng thúc giục chính quyền Hoa Kỳ nhanh chóng củng cố một mặt trận quốc tế hữu hiệu hợp cùng lực lượng Nhật, Philippines, Ấn Độ và Úc để ngăn chặn hành động lấn lướt ngày càng lộ liễu của Trung Quốc tại Biển Đông dễ dàng dẫn đến thế chiến thứ ba mà tổn thất sẽ là nỗi kinh hoàng cho nhân loại.

Điểm thứ ba là trong các văn bản liên quan cần thay thế từ ‘đảo tranh chấp’ bằng từ ‘đảo bị Trung Quốc xâm chiếm’ vì trên thực tế cũng như trong lịch sử, Trung Quốc chưa bao giờ có quyền sở hữu những hòn đảo này.”


Công tác phổ biến

Kèm theo bức thư được công bố là danh sách của hơn 70 người ký tên đầu tiên. Trong số này có 24 người Philippines và 47 người Việt Nam cả trong và ngoài nước tham gia.

Cũng theo cô Ann Đỗ thì thư kêu gọi mọi người tham gia ký tên để rồi gửi đến cho các chính trị gia tại địa phương của họ yêu cầu có sự lên tiếng thích hợp trước hành động được cho là gây hấn nguy hiểm của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông:

“Việc phổ biến lá thư này trước hết chúng tôi vận động được một số cá nhân trong cộng đồng người Việt đang sinh sống tại Hoa Kỳ gửi thư này lên các thượng nghị sĩ như nhóm của thượng nghị sĩ John McCain đang rất quan tâm về vấn đề Trung Quốc quân sự hóa vùng Biển Đông. Chúng tôi cố gắng vận động gửi thư này đến nhóm thượng nghị sĩ đó cũng như thượng và hạ viện Mỹ.

Ngoài ra có những cộng đồng người Việt mà họ có thể vận động qua các dân biểu, lãnh đạo cấp tiểu bang.

Gần đây có một diễn đàn ‘Boston Forum’, trong nhóm đó có một người quan tâm và yêu cầu chúng tôi gửi lá thư này cho Diễn đàn. Vừa qua vào ngày 20 tháng tư họ cũng có một hội thảo và liên quan đến vấn đề quản lý, hòa bình và ổn định tại vùng Biển Đông Nam Á. Chúng tôi đã liên hệ, gửi thư đến cho họ và chờ đợi sự phản hồi từ phía họ.

Ngoài ra cũng có rất nhiều nhóm như nhóm Nghiên cứu Biển Đông, hay Quỹ Nguyễn Thái Học, họ có thời gian dài nghiên cứu và lên tiếng, ‘petition’ thì chúng tôi cũng chia xẻ những thông điệp của họ để mọi người tăng sự quan tâm nhiều hơn.

Nói chung ở đây có cùng một mục đích chung là làm sao cho Trung Quốc phải ngưng ngay lập tức việc xây dựng đó. Sau đó là đi đến đàm phán để giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.”


Chống lại tuyên truyền của Trung Quốc

Có thể nói phía Trung Quốc ngoài hoạt động làm thay đổi hiện trạng tại khu vực tranh chấp, lâu nay công tác tuyên truyền của họ cũng mạnh mẽ không kém.

Cô Ann Đỗ đưa ra nhận định về thực tế này như sau:

  Trên mặt trận truyền thông họ sử dụng nguồn tài chính, nhân lực của họ có, kể cả về mặt kỹ thuật, công nghệ thông tin nữa để họ áp đảo mọi tiếng nói; nghĩa là đi ngược lại mọi tuyên bố của họ.

» Cô Ann Đỗ
“Trên mặt trận truyền thông họ sử dụng nguồn tài chính, nhân lực của họ có, kể cả về mặt kỹ thuật, công nghệ thông tin nữa để họ áp đảo mọi tiếng nói; nghĩa là đi ngược lại mọi tuyên bố của họ. Ví dụ thông qua báo chí, Internet, kể cả như đại sứ Việt Nam tại ASEAN phát biểu họ (Trung Quốc) vị phạm DOC, hay đang làm những việc trái phép; ngay lập tức hôm sau phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng đàn ‘chửi’ ngay lập tức.

Và đôi khi những báo chí trong nước của họ như Tân Hoa Xã, Thời báo Hoàn Cầu có những bài báo ‘chửi’ những tiếng nói đi ngược lại tuyên bố của họ, nói chung họ dùng những lời lẽ không thể tưởng tượng được, gây sốc cho người khác. Và bất cứ ai như Anh, Mỹ hay những bộ trưởng trong khu vực có lên tiếng đều bị phản bác. Họ (Trung Quốc) luôn khẳng định những điều họ làm là đúng, nằm trong phạm vi chủ quyền của họ và không vi phạm điều gì hết.

Ngoài ra theo chúng tôi được biết thì những tài liệu lịch sử tại các trường đại học, họ đưa ra những chứng cứ ngụy tạo. Có nghĩa là họ chi tiền cho những nghiên cứu viên để viết ra những cuốn sách cho rằng chủ quyền, đường lưỡi bò là chủ quyền mang tính lịch sử của họ. Họ làm đủ mọi cách để chứng minh với thế giới rằng những điều họ đang làm là đúng. Họ không căn cứ vào luật quốc tế, luật biển mà họ đưa ra nói chủ quyền mang tính lịch sử. Lịch sử có nghĩa là từ đời Tần, đời Tống, đời Thanh và gần như họ phản bác toàn bộ tiếng nói của cộng đồng thế giới còn lại.”


Theo đánh giá của những người trong lĩnh vực nghiên cứu và tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Việt Nam thì có thể nói tương quan lực lượng giữa hai phía Hà Nội và Bắc Kinh có khoảng cách lớn.

Tuy nhiên theo phó giáo sư- tiến sĩ Trần Nam Tiến, khoa Sử- Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thì phía Việt Nam đang có cải thiện:

“Theo tôi thật ra có một sự thay đổi khá nhiều so với trước đây. Có sự mở rộng phạm vi trong việc nghiên cứu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và rộng hơn ở Biển Đông.

Theo tôi lực lượng là quan trọng trong việc nghiên cứu và công bố các công trình khoa học liên quan đến vấn đề này.

Rõ ràng hiện nay đội ngũ nghiên cứu (của Việt Nam) vẫn còn chưa nhiều, và sự liên kết chưa được thể hiện một cách chặt chẽ. Tuy nhiên theo tôi nghĩ trong thời gian tới lực lượng này sẽ tăng lên, đặc biệt là các bạn trẻ. Họ là những người có điều kiện tiếp xúc với những tài liệu, đặc biệt là những tài liệu lưu trữ ở các kho tư liệu lớn ở Phương Tây như Hà Lan, Anh…”


Sự tham gia ký tên và yêu cầu các giới chức chính trị từ cấp địa phương đến trung ương ở các nơi có công dân của những nước đang bị Trung Quốc xâm lấn chủ quyền theo thư của Southeast Asia Sea United Front là một trong những công việc mà người nào cũng có thể tham gia để chống lại những sai phạm về chủ quyền của Trung Quốc lâu nay.

Gia Minh
phóng viên RFA
Theo RFA

Đăng bởi BTV VANEWS on Thứ Bảy, ngày 25 tháng 4 năm 2015 | 25.4.15

Tổng tuyển cử tại miền Nam Việt Nam năm 1967

Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới.

Nhận định trên được một người làm việc ở Sài Gòn trước 1975 nói với BBC trong dịp đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là phụ tá Tổng trưởng Tài chính thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trao đổi với BBC từ California, Hoa Kỳ. Ông cho rằng chính sách viện trợ của Hoa Kỳ không những không giải quyết được các vấn đề của miền Nam thời bấy giờ, mà còn gây thêm nhiều khó khăn.

BBC:Ông đánh giá thế nào về tính tự do, mở cửa của nền kinh tế miền Nam thời bấy giờ, thưa ông?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Có lẽ nên đặt trong hoàn cảnh của thập niên 60 của thế giới lúc đó và cái thứ nhì là hoàn cảnh riêng của Việt Nam.

Lần đầu tiên sau năm 1883 đến 1955 mới có một nước Việt Nam độc lập và bắt đầu bước qua chuyện thế nào là dân chủ, thế nào là kinh tế thị trường.

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ miền Nam, nhất là nền Đệ nhất Cộng hòa, đã có những thành quả lớn, so với thời thực dân Pháp cai trị đất nước ta với nền kinh tế chỉ huy của họ.

Nền kinh tế với dân số 15 triệu đã phải tiếp nhận gần 2 triệu người dân di cư từ miền Bắc vào, phải xây dựng lại một hệ thống kinh tế và hành chính khác hẳn những gì nước Pháp để lại.

Trong giai đoạn đó, mức độ tự do kinh tế so với miền Bắc, chứ tôi chưa nói là các nước khác, thì những cải cách như đạo luật cải cách ruộng đất ban hành năm 1956 đã là một bước tiến đáng kể.

Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa thì một nửa đất nước lâm vào cảnh chiến tranh toàn diện, do những người cộng sản tổ chức ngay trong ruột của miền Nam.

Tình trạng chiến tranh ngày càng rộng mở từ năm 1965 trở đi thì miền Nam càng mất khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế của mình, từ chuyện ruộng đất, canh tác để nuôi sống khoảng 18 triệu người.

Nhưng trong giai đoạn đó thì chính quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn cố gắng làm được chuyện rất lạ, là xây dựng nền kinh tế thị trường, và thúc đẩy điều lớn lao hơn nền Đệ nhất Cộng hòa là đạo luật cải cách ruộng đất ngày 26/3 năm 1970, với tên gọi "Người cày có ruộng".

Đạo luật này đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và hữu sản hóa cho 1 triệu rưỡi người nông dân miền Nam lúc đó.

Trong hoàn cảnh đó, nhất là sự ngu xuẩn trong chính sách viện trợ của Mỹ, mà miền Nam vẫn làm được những điều đó.

Nếu nền Đệ nhất cộng hòa gặp áp lực từ người Bắc di dân vào thì Đệ nhị Cộng hòa cũng phải đón nhận hoàn cảnh tương tự.

   Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa
Năm 1972, quân đội miền Bắc đánh vào phía nam của vĩ tuyến 17, khiến bao người trôi dạt vào phía trong nam mà miền nam vẫn phải trợ cấp, tạo công ăn việc làm cho họ, trong bối cảnh Mỹ đã tháo chạy.

Trong hoàn cảnh đó mà vẫn còn giữ được mấy năm nữa thì tôi nghĩ thuần về kinh tế mà nói là cả nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đã giải được những bài toán kinh tế mà tôi cho là nhiều quốc gia như Nam Hàn, Thái Lan, Philippines nếu rơi vào trong hoàn cảnh tương tư chưa chắc đã giải quyết được.

Người ta cứ nói là do viện trợ Mỹ nhưng không phải. Chính viện trợ Mỹ là yếu tố khiến miền Nam không đương cự nổi với tình thế chiến tranh.

BBC:Theo ông thì những chính sách tiến bộ nào của miền Nam thời đó có thể so sánh được với Nam Hàn hay Nhật Bản trong thời kỳ các nước này mới trỗi dậy?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cái khá cụ thể là nói đến mức sống của người dân thực sự thời đó khá tương đối, nếu so sánh với trường hợp của Nam Hàn, Philippines hay Đài Loan.

Miền Nam lúc đó cũng đã có một số công ty quốc doanh bị buộc phải giải tư, hệ thống kinh tế do chính quyền kiểm soát phải bước sang nền kinh tế cho tư nhân.

Trong lĩnh vực của tôi khi tiếp xúc làm việc với đối tác Đài Loan, Nam Hàn thì họ theo dõi các chính sách của miền Nam có sự tôn kính, khâm phục. Hai bên đều xem nhau là đang trước áp lực của cộng sản mà phải giải quyết các vấn đề kinh tế.

Tuy nhiên chiến sự tại nam Việt nam ngày càng bùng phát dữ dội, không như hai nơi cũng bị áp lực của chiến tranh là hai Nam Hàn, Đài Loan.

Điều đó không chỉ bắt đầu từ việc chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, mà còn do tướng tá bắt đầu làm loạn từ năm 1963, khiến nền kinh tế không thể sinh hoạt bình thường như Nam Hàn hay Đài Loan, khiến miền Nam dựa vào hệ thống viện trợ của Hoa Kỳ.

Chúng ta thấy như ở Iraq hay Afghanistan là viện trợ không giúp cho quốc gia cầu viện giải quyết những vấn đề của mình, vì nó tùy thuộc vào chính sách quốc gia cấp viện khi đó. Viện trợ để giải quyết vấn đề của nước Mỹ, chứ không giải quyết vấn đề của nước nhận viện trợ.

Vận động đi bầu cử ở Sài Gòn năm 1967

BBC:Ông có tin rằng nếu có cơ hội tồn tại, Việt Nam Cộng hòa có thể sánh ngang với các cường quốc châu Á ngày nay?

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đó là vấn đề giả định về lịch sử mà không xảy ra được. Thực tế ra lúc đó các quốc gia đều nghĩ rằng miền Nam là trù phú. Miền Nam có những tài nguyên, điều kiện khá hơn các nước khác như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines.

Nếu chiến sự lắng đọng trong 6 tháng thì miền Nam đã có thể tự túc về lúa gạo và lắng đọng 1 năm thì có thể trở về vị trí xuất cảng về gạo.

‎Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội ở miền nam.

Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.

Bây giờ cũng vậy, những người ưu tú nhất của miền bắc cũng đi vào trong nam và tìm đến không khí tự do, cởi mở, thông thoáng, rộng rãi. Đó là di sản mà người ta cứ tưởng đã mất, nhưng vẫn còn đó.

Đó là đóng góp của miền Nam, vùng đất nhiều vấn đề, tai ương, nhưng cũng là nơi cho nhiều cơ sở để có thể bùng lên sau thời kỳ Đổi Mới.

Theo BBC


Bà Bùi Thị Minh Hằng trong lần mới ra tù trước đây, ảnh minh họa.

Không có tội

Một số những tù nhân lương tâm ở Việt Nam cương quyết không chịu mặc áo tù nhân như Luật sư Lê Quốc Quân, bà Bùi Thị Minh Hằng, anh Đặng Xuân Diệu… vì họ cho rằng mình không có tội. Hiện trại giam đối xứ với họ như thế nào?

“Giữa tháng 4 vừa rồi, gia đình vào thăm gặp bà thì trại không cho thăm gặp. Họ bảo yêu cầu bà mặc áo tù nhân của trại thì mới được gặp gia đình. Thế nhưng bà vẫn kiên quyết không chấp nhận điều đó. Họ có lập biên bản về việc này nhưng trong biên bản không thấy chữ ký của mẹ em mà chỉ thấy của 2 người làm chứng, là phạm nhân cùng phòng. Biên bản lập về việc mẹ em không chấp nhận mặc áo của trại giam nên không được gặp gia đình.”

  Giữa tháng 4 vừa rồi, gia đình vào thăm gặp bà thì trại không cho thăm gặp. Họ bảo yêu cầu bà mặc áo tù nhân của trại thì mới được gặp gia đình. Thế nhưng bà vẫn kiên quyết không chấp nhận điều đó.

» Cô Quỳnh Anh
Vừa rồi là lời chia sẻ của cô Quỳnh Anh về lần thăm gặp mới nhất với mẹ của mình là bà Bùi Thị Minh Hằng đang thụ án 3 năm tù giam vì tội “gây rối trật tự công cộng” theo điều 245 Bộ luật Hình sự VN. Kể từ khi bị bắt đưa vào trại giam An Bình ở tỉnh Đồng Tháp hồi tháng 2 năm 2014, bà Bùi Hằng cương quyết chỉ mặc đồ của gia đình gửi vào mà không mặc áo phạm nhân. Sau khi chuyển về trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai vào tháng 2 năm nay, bà Bùi Hằng vẫn phản đối không mặc đồ của trại giam ở đây. Trại giam Gia Trung chỉ đồng ý với điều kiện họ phải đóng dấu “Tù nhân” trên quần áo cá nhân của bà Bùi Hằng thì mới cho mặc. Bà Bùi Hằng yêu cầu phải đóng dấu “Tù nhân Chính trị” chứ không chấp nhận đóng dấu “Tù Hình sự”. Trại giam không đồng ý với yêu cầu này. Trong chuyến thăm gặp đầu tiên của gia đình ở trại giam Gia Trung, bà Bùi Hằng thông báo cho cô Quỳnh Anh biết nhưng chuyến thăm gặp mới nhất trong tháng 4 thì cô Quỳnh Anh không được gặp mẹ của mình mà chỉ nhận được tờ biên bản ghi không cho gặp gỡ gia đình nữa.

Cấm thăm nuôi?

Anh Đặng Xuân Diệu trước khi bị bắt
Về trường hợp của tù nhân Đặng Xuân Diệu thì nghiêm trọng hơn rất nhiều. Đặng Xuân Diệu là một trong 14 thanh niên Công giáo ở Vinh bị kết án tù 13 năm theo điều 88 Bộ luật Hình sự VN hồi năm 2011. Kể từ khi bị bắt cho đến nay, tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu không chịu mặc áo tù nhân và anh chưa bao giờ được gặp gia đình trong thời gian gần 4 năm thụ án. Ông Đặng Xuân Hà, anh trai của anh Đặng Xuân Diệu cho đài ACTD biết chỉ duy nhất một lần được thấy em trai mình trong trại giam từ khoảnng cách xa 20 mét:

“Lúc ấy vì lý do vào thời điểm Diệu đã 142 lần không ăn cơm nên sức khỏe xuống dốc, trong người mang thêm nhiều bệnh tật và được anh Trương Minh Tam cho biết sức khỏe của Diệu quá kiệt quệ. Khi đó gia đình và tất cả những người thân của Đặng Xuân Diệu đòi hỏi quản lý trại giam cho thấy được Diệu thì buộc lòng họ phải cho mình thấy. Họ cho nhìn thấy Diệu ở khoảng cách xa 20 mét chứ không cho gặp. Thấy được Diệu là họ lôi vào ngay.”

Biết tin em trai Đặng Xuân Diệu sức khỏe bị kiệt quệ do tuyệt thực ở trại giam Xuyên Mộc phản đối cách hành xử khắc khe của trại giam, ông Đặng Xuân Hà đến xin thăm gặp nhưng không được giải quyết. Ông Hà nhờ giám thị trại giam chuyển giúp tự điển và sách hát thánh ca đều bị từ chối. Trong số lần gọi điện thoại ít ỏi thăm gia đình của Đặng Xuân Diệu, lần mới nhất, anh Diệu cho biết không được mua đồ ăn ở căn-tin. Ông Đặng Xuân Hà kể lại:

  Những người thân của Đặng Xuân Diệu đòi hỏi quản lý trại giam cho thấy được Diệu thì buộc lòng họ phải cho mình thấy. Họ cho nhìn thấy Diệu ở khoảng cách xa 20 mét chứ không cho gặp. Thấy được Diệu là họ lôi vào ngay.

» Ông Đặng Xuân Hà
Lần mới nhất anh Diệu gọi về vào khỏang ngày tháng 12 tháng 4 vừa rồi. Diệu cho gia đình biết rằng hiện bây giờ trại giam có chỉ thị riêng với Đặng Xuân Diệu là không cho mua thức ăn ở căn-tin, tức là dù có tiền của gia đình ký gửi vào cũng không được mua thức ăn riêng. Tôi thấy đó là hình thức người ta cố tình giết Diệu một cách thầm lặng lâu dài. Từ trước tới giờ, tôi chưa thấy một trai giam nào không cho tù nhân mua thức ăn ở căn-tin mà thức ăn của trại không biết họ cho Đăng Xuân Diệu ăn thức ăn gì, dung lượng ăn ra sao, tôi không hề biết được.”

Ông Trương Minh Tam, một cựu tù từng bị giam sát buồng của Đặng Xuân Diệu, biết rõ tình trạng sức khỏe của anh Diệu nói với đài RFA:

“Theo Tam nghĩ sức khỏe của Diệu rất yếu. Mình nghĩ khoảng trên 40 kg, thể trạng một người đàn ông như thế thì thật sự rất nguy hiểm. Mình cũng kỳ vọng cậu ấy phải được trợ giúp nhân đạo, được đưa đi chữa bệnh để khắc phục tình trạng sức khỏe suy kiệt lâu dài. Theo như số liệu không chính thức Tam cộng dồn vào thì đến thời điểm này, Diệu đã bỏ bữa ăn, bao gồm cả tuyệt thực rồi ăn thất thểu lên khoảng tầm 15 tháng trong tổng số đi tù chưa đầy 4 năm.”
Riêng trường hợp của Luật sư Lê Quốc Quân, kể từ khi được chuyển từ Hỏa Lò đến trại giam An Điềm, tỉnh Quảng Nam, gia đình cho biết Luật sư Lê Quốc Quân vẫn không mặc áo tù nhân nhưng trại giam An Điềm thực hiện đúng luật định cho thăm gặp cũng như được nhận Kinh thánh và sách vở.

Theo điều 39 trong Luật Thi hành Án Hình sự năm 2010 quy định “trại giam phải thông báo tình hình chấp hành án; phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân”; thế nhưng, gia đình của các tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng và Đặng Xuân Diệu không biết phải làm thế nào để được phối hợp cùng trại giam thực hiện quy định theo điều 39 này.

Hòa Ái
phóng viên RFA
Theo RFA

Phía ngoài Nhà hát lớn Sài Gòn trước năm 1975

Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài.

Nhận định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt kiều Mỹ nay đang sống ở Việt Nam, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 23/4.

Ông Thành cũng cho rằng "dư âm của nền kinh tế tập trung" đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai.

BBC: Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975?

Ông Bùi Kiến Thành: Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.

Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.

Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ‎ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt.

Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý‎ nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng, vẫn có những nhũng nhiễu của các nhóm lợi ích.

Trước 75 thì kinh tế miền Nam sống nhờ viện trợ hoa kỳ. Mỹ cung cấp cho miền Nam một tài khoản lớn, mỗi năm mấy trăm triệu đôla, mỗi năm nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam rồi chi cho chính phủ, chi cho phát triển.

Với nền Đệ nhị Cộng hòa thì chiến tranh mở rộng và chi phí của bộ máy quân sự Mỹ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế. Nền kinh tế phát triển ảo, phát triển về hạ tầng chứ không phải phát triển doanh nghiêp để tạo ra công nghệ mới.

Nó có định hướng tốt là nền kinh tế thị trường nhưng không vững chắc, không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính.

Cả Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đều không có điều kiện để phát triển hết tiềm năng của một nền kinh tế thị trường, do chiến tranh và việc chuyển đổi qua nền kinh tế kế hoạch tập trung rất là khắc nghiệt.

Nếu so sánh với các nước khác thì Đại Hàn bắt đầu dưới thời Park Chung Hee mới bắt đầu phát triển tốt và đến 70 mới phát triển xa hơn Việt Nam Cộng Hòa.

Không thể so sánh với những nước như Nhật được. Nhật đến năm 70 đã phát triển thành nền kinh tế tiến bộ rồi.

Singapore thời đó cũng chỉ mới bắt đầu có tiến triển dưới thời L‎ý Quang Diệu và đến 70 thì phát triển xa hơn miền Nam nhiều, vì cả ba nước này không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

   Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành
BBC: Xu hướng phát triển của Việt Nam Cộng Hòa sẽ như thế nào nếu được phát triển trong hòa bình, thưa ông?

Ông Bùi Kiến Thành: Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.

Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.

Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.

Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.

Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế 'nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý‎ của nhà nước".

Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản l‎ý của nhà nước.

Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.

Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.

Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản l‎ý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.

Nền kinh tế thị trường của miền Nam đã bị phá vỡ sau năm 1975

BBC: Liệu chính phủ ngày nay có thể học được gì từ chính sách kinh tế miền nam trước 1975 thưa ông?

Ông Bùi Kiến Thành: Thứ nhất là kinh tế là việc của nhân dân chứ không phải của chính phủ, chính phủ không làm kinh tế. Đó là bài học lớn nhất.

Phải bỏ tập quán chính phủ đi làm kinh tế. Đã có định hướng như thế rồi nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vấn đề tư duy kinh tế nhà nước.

Thứ hai là các nhóm lợi ích của thành phần cầm quyền có ảnh hưởng rất lớn về vấn đề lợi ích trong nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị khống chế bởi một nhóm lợi ích, khó mà phát triển được.

Kinh tế làm sao phải lan tỏa được để mọi người có thể tham gia, làm sao để tổ chức mà cả hệ thống chính trị, hệ thống hành chính tạo điều kiện cho người dân tham gia bình đẳng vào vấn đề kinh tế.

Ở miền Nam khi đó không có vấn đề là đảng viên thì hay ở trong hệ thống tổ chức nào mới được trọng dụng.

Đến bây giờ chúng ta thấy rằng về vấn đề quản lý nhà nước, toàn thể Việt Nam vẫn ở trong hệ thống Đảng Cộng sản, không phải đảng viên thì không được gì, mà chưa hẳn là 4 triệu đảng viên cộng sản đã là tinh túy nhất của toàn dân Việt Nam, nên nó hạn chế việc đào tạo lãnh đạo quản lý‎ nhà nước.

Chúng ta chưa thực sự mở cửa đào tạo, có hệ thống giáo dục tân tiến.

Đi vào đại học thì học những chuyện đã cũ rích rồi, từ những sách tiếng Anh dịch ra cho học sinh học mà thầy giáo đọc còn chưa hiểu, trong khi ở những nước khác, sinh viên học trên internet các dữ liệu, kiến thức mới.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa thể đưa những kinh nghiệm hay kiến thức mới vào nền giáo dục kịp thời, nên chúng ta đào tạo ra các sinh viên không đủ năng lực đi vào thực tế, đi vào xã hội.

Các doanh nghiệp khi thuê từ đại học ra phải đào tạo lại cho phù hợp với doanh nghiệp mình, nên tốn gấp đôi thời gian và tiền.

Bên cạnh đó, Việt Nam bây giờ còn có cái đại nạn là phải đi mua việc. Điều đó tạo ra vấn đề là những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước không phải do năng lực. Những chuyện đó hạn chế chất lượng quản lý nhà nước của Việt Nam.

Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.

Giáo dục miền Bắc khi đó chỉ có Marxist thôi, không được đọc sách báo, không nghe về tư bản chủ nghĩa, không nghe BBC, radio thì bị khóa không được mở các tần số đấy.

Giờ thì trong trường đại học mở ra nhiều hướng để sinh viên tiếp cận, ví dụ như Internet. Nhưng giáo trình thì không bao nhiêu, vì các thầy cũng có được học đâu, các thầy cũng học trong cơ chế xã hội chủ nghĩa bao năm nay rồi, nên việc đào tạo các thầy trước rồi đào tạo sinh viên sau khiến nền giáo dục bị chậm trễ.

Dư âm của một nền văn hóa tập trung vẫn khiến Việt Nam bị hạn chế cho đến nay.

Theo BBC

Tù nhân lương tâm Nguyễn Đặng Minh Mẫn (thứ 2 từ phải sang), tại phiên xử trước đây.


Tù nhân lương tâm Nguyễn Đặng Minh Mẫn, hiện đang phải thụ án tù tại phân trại 4, trại giam số 5 Yên Định Thanh Hóa, vừa qua phải chịu kỷ luật biệt giam vì phản đối Trại giam tra tấn những tù nhân chính trị bằng những chương trình truyền hình mà những tù nhân này cho là vô bổ, nhảm nhí...

Ông Nguyễn Văn Lợi, cha của đình tù nhân chính trị Nguyễn Đặng Minh Mẫn và một số thân hữu khác trong đó có cựu tù nhân Trương Minh Tam vào ngày hôm qua 24 tháng 4 đến Trại giam Số 5 Yên Định, Thanh Hóa để thăm cô Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Ông Nguyễn Văn Lợi sau khi gặp con gái ra đã chia sẻ những thông tin từ Nguyễn Đặng Minh Mẫn cho những người cùng đi, trong đó có cựu tù nhân Trương Minh Tam. Anh này cùng từng bị giam ở Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa và cho Đài Á Châu Tự do biết những thông tin nhận được từ ông Nguyễn Văn Lợi, cha tù nhân chính trị Nguyễn Đặng Minh Mẫn như sau:

  Một phụ nữ mà mỗi ngày chỉ được cấp 2 cốc nước chừng 600 ml. Cô cho bố biết trong những ngày bị biệt giam cô rất yếu. Trước khi vào buồng giam cũng như sau khi ra đều bị lột hết áo quần, kể cả quần áo lót để kiểm tra.

» Ông Nguyễn Văn Lợi
“Vào ngày 13 tháng 4 2015, bố của tù nhân lương tâm Nguyễn Đặng Minh Mẫn đã đến Trại giam số 5 Yên Định, Thanh Hóa để thực hiện lịch thăm gặp cô ta vào tháng tư. Cùng ngày đó tôi cũng di chuyển đến trại giam này và nhận được thông tin là cô ta bị đưa vào buồng biệt giam, do đó không thực hiện được chuyến thăm gặp như định kỳ và họ có hẹn hết lệnh kỷ luật thì mới được thăm gặp. Do vậy đến ngày 24 tháng tư, tức hôm qua chúng tôi lại tiếp tục đến trại giam để thăm gặp cô ấy để biết thêm thông tin.

Bố của cô từ 8 giờ 30 thực hiện được cuộc gặp và đến khoảng 10 giờ ông ra thì cho tôi biết một số thông tin về cuộc gặp. Ông bố của Nguyễn Đặng Minh Mẫn chia sẻ sự lo ngại vì tình hình sức khỏe của con mình rất yếu do bị đưa vào buồng giam kỷ luật. Tất nhiên theo qui định cô ta không bị cùm chân theo Luật Thi hành án ban hành năm 2010 của Nhà nước Việt Nam. Nhưng đối với một phụ nữ mà mỗi ngày chỉ được cấp 2 cốc nước chừng 600 ml. Cô cho bố biết trong những ngày bị biệt giam cô rất yếu. Trước khi vào buồng giam cũng như sau khi ra đều bị lột hết áo quần, kể cả quần áo lót để kiểm tra.”


Xin được nhắc lại Nguyễn Đặng Minh Mẫn bị bắt hồi ngày 21 tháng 7 năm 2011. Cô, mẹ bà Đặng Ngọc Minh và em trai Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc bị đưa ra xét xử trong phiên xử kéo dài hai ngày 8 và 9 tháng 1 năm 2013 với cáo buộc ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền theo điều 79 Bộ Luật hình sự Việt Nam’cùng với nhóm hơn chục thanh niên Công giáo khác ở Vinh.

Cô Nguyễn Đặng Minh Mẫn bị tuyên án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế. Bà mẹ Đặng Ngọc Minh bị tuyên 3 năm tù và 2 năm quản chế. Bà Minh mãn án vào ngày 10 tháng 6 năm 2014. Người em trai Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc bị án treo.

Theo RFA

Ít nhất 970 người được biết là đã chết trong một trận động đất mạnh ở Nepal, với nhiều trường hợp hơn nữa bị e là đang mắc kẹt dưới đống đổ nát, theo giới chức.


Trận động đất 7,8 độ richter xảy ra ở một khu vực nằm giữa thủ đô Kathmandu và thành phố Pokhara, theo cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ.

Các chấn động đã được cảm thấy trong vùng, với nhiều trường hợp bị thiệt mạng xảy ra ở ở Ấn Độ, Bangladesh, Tây Tạng và trên đỉnh Everest.

Chính phủ Nepal đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở các khu vực bị ảnh hưởng.

Bộ trưởng Thông tin Nepal, Minendra Rijal, nói có "thiệt hại lớn" tại tâm chấn, nơi hiện có ít thông tin lọt ra.

"Chúng tôi cần sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế vốn có kiến thức nhiều hơn và được trang bị tốt hơn để xử lý loại trường hợp khẩn cấp mà chúng tôi phải đối mặt hiện nay", ông nói.

Một phát ngôn viên cảnh sát quốc gia nói với BBC rằng 970 người đã chết trong trận động đất, và hơn 1.700 trường hợp bị thương.

Ít nhất 539 người đã thiệt mạng ở thung lũng Kathmandu, ông nói thêm.







Theo BBC
 
Top ↑ Copyright © 2011. VANEWS - All Rights Reserved
Welcome to Vietnam News