Người Đưa Tin
Tin Tức Cập Nhật 24/7

Chiến tranh Việt Nam: miền Bắc thắng nhờ lợi dụng lòng dân?


Đấu tranh chính trị để xây dựng chính nghĩa cho mình và đả phá chính nghĩa của Sài Gòn, kế sách này đã giúp Hà Nội tập hợp sự ủng hộ của người dân Việt Nam không chỉ ở miền Bắc mà cả một bộ phận ở miền Nam, cùng lúc làm lay chuyển sự ủng hộ của dân Mỹ đối với cuộc chiến. Đó là một trong những nguyên nhân then chốt giúp Bắc Việt giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, theo các học giả Mỹ và Việt Nam tại một hội thảo mới đây ở thủ đô Washington, Hoa Kỳ.

Hình minh họa.

Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn lại chật vật tranh thủ sự ủng hộ của người dân, đối mặt với sự chia rẽ trong dư luận, bị nghi ngờ về tính chính nghĩa của mình ở cả trong nước và trên trường quốc tế, cũng theo các ý kiến tại hội thảo có tiêu đề: ‘Nhìn lại Chiến tranh Việt Nam’ do Tập hợp vì Dân chủ cho Việt Nam (ADVN) tổ chức tại Cơ quan Văn khố Quốc gia Mỹ hôm 14/9.

‘Giương cao chính nghĩa’

Chiến dịch đấu tranh ngoại giao ‘hết sức quyết liệt và hiệu quả’ của chính quyền Hà Nội trên trường quốc tế là ‘một trong những chìa khóa’ giúp miền Bắc giành chiến thắng chung cuộc bên cạnh chiến dịch quân sự ở miền nam, ông Pierre Asselin, Giáo sư Sử học thuộc Đại học San Diego và là tác giả của nhiều đầu sách về chiến tranh Việt Nam, nhận định.

Nhờ đó mà Hà Nội ‘đã giương cao chính nghĩa của mình là chính nghĩa hợp pháp trong khi liên tục đả kích tính chính nghĩa của miền Nam và của Mỹ’. Theo GS Asselin, đó là vũ khí để Hà Nội vô hiệu hóa sức mạnh quân sự rõ ràng là vượt trội của người Mỹ.

“Chung cuộc, Hà Nội đã có thể cô lập cả người Mỹ và miền Nam Việt Nam về ngoại giao,” ông Asselin nhận định trong phần tham luận có tựa đề ‘Nhìn từ Bắc Việt: Làm sao Bắc Việt thắng trong cuộc chiến’ và lưu ý rằng miền Nam đã không thể làm được như Hà Nội.

“Sài Gòn đã thất bại thảm hại trong việc thể hiện tính hợp pháp của mình ngay cả với dư luận trong nước,” ông nói.

Ông Asselin nói rằng ngay từ rất sớm trong cuộc chiến, chính quyền miền Bắc đã nhận thức được tầm quan trọng của thông tin tuyên truyền. “Hà Nội đã xây dựng được luận điệu tuyên truyền thậm chí ngay trước khi chiến tranh bắt đầu và luôn nhấn mạnh, duy trì luận điệu đó một cách nhất quán,” ông nói.

“Cách tuyên truyền đó thành công đến nỗi nó vẫn còn tiếp tục đến ngày nay,” ông nói thêm và dẫn chứng những sinh viên học sinh khi được học về Chiến tranh Việt Nam vẫn cho rằng Việt Nam Cộng hòa là ‘tay sai, bù nhìn’ của người Mỹ.

Về tính chính nghĩa của miền Nam, ông Tường Vũ, Giáo sư chính trị tại Đại học Oregon, cho rằng đó là một chính thể cộng hòa được xây dựng với các lý tưởng tự do dân chủ kết hợp với lý tưởng dân tộc. Theo ông thì những giá trị như ‘xã hội dân chủ tự do cho phép mọi người được tự do buôn bán, làm việc, học hành’ cũng tạo nên chính nghĩa của riêng miền Nam để thu hút người dân đứng lên.

Về lý tưởng dân tộc thì miền Nam cũng mong muốn Việt Nam ‘trở thành một quốc gia thống nhất, không bị lệ thuộc vào ngoại bang’, ông Vũ trình bày trong phần tham luận về quá trình xây dựng nhà nước cộng hòa ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975.

“Tổng thống Ngô Đình Diệm từng nhấn mạnh rằng sự can thiệp quân sự của người Mỹ là đi ngược lại lý tưởng dân tộc,” GS Vũ cho biết và nói rằng tuy nhiên sau đó Việt Nam Cộng hòa đã không thể chấm dứt được sự lệ thuộc vào người Mỹ.

Trả lời câu hỏi của VOA tại hội thảo rằng điều gì, chính nghĩa giải phóng dân tộc hay xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã giúp miền Bắc tranh thủ được sự ủng hộ của người dân miền Bắc và cả ở miền Nam tập kết ra Bắc, GS Asselyn nói rằng đó là vì miền Bắc ‘biết cách thao túng lịch sử’.

Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh rằng chính người Mỹ cũng đã giúp Hà Nội tăng cường tính chính danh của mình khi họ tiến hành ném bom miền Bắc. Điều này càng làm cho người dân miền Bắc, vốn đã mệt mỏi sau cuộc chiến với người Pháp và không muốn có thêm một cuộc chiến nữa, càng hết lòng ủng hộ lãnh đạo của họ trong cuộc chiến ở miền Nam.

‘Thất sách’ của miền Nam

Trao đổi với VOA bên lề hội thảo về tại sao miền Nam cũng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc nhưng lại để cho quân Mỹ vào bắn giết người dân Việt Nam, GS Vũ cho rằng ‘đó là thất sách’ mà vì lẽ đó mà chính quyền miền Nam ‘phần nào mất đi tính chính nghĩa’.

Tuy nhiên, ông cho rằng ‘điểm yếu đó nằm ngoài khả năng kiểm soát của chính quyền miền Nam Việt Nam’ mặc dù ‘rất nhiều giới tinh hoa kể cả Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ đều không đồng ý đưa quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam’.

Trước câu hỏi của VOA tại sao miền Bắc cũng đón quân Trung Quốc và Liên Xô vào cố vấn, vào đồn trú nhưng lại không ảnh hưởng đến chính nghĩa của họ trong mắt người dân, ông Vũ giải thích rằng đó là vì ‘miền Bắc để cho quân lính nước ngoài đóng ở các tỉnh biên giới sát với Trung Quốc và không được đi sâu vào thành phố’.

“Họ (quân nước ngoài) được bố trí ở những nơi hẻo lánh và kín đáo nên không tạo nên sự phản cảm với người dân trong khi ở miền Nam sự hiện diện của quân Mỹ là quá rõ ràng,” ông nói thêm và cho biết quân Trung Quốc và Liên Xô không trực tiếp chiến đấu như quân Mỹ ở miền Nam mà ‘chỉ huy các đơn vị phòng không và các đơn vị xây dựng sửa chữa cầu đường khi bị bom đạn phá hỏng’.

Ông Vũ cũng cho rằng tính chất chế độ Nhà nước ở miền Nam khiến cho họ gặp nhiều bất lợi hơn Hà Nội trong việc thống nhất dư luận cho cuộc chiến.



“Chế độ độc tài có thể huy động quân lính, huy động lương thực, huy động tài nguyên cho chiến tranh dễ hơn chế độ dân chủ vốn phải qua nhiều cuộc thảo luận mới có thể quyết định,” ông giải thích. “Thêm nữa là còn tinh thần thượng tôn pháp luật (ở miền Nam). Ở miền Bắc những ai bất đồng chính kiến thì bị bỏ tù ngay lập tức trong khi ở miền Nam thì không thể làm thế vì người dân có quyền biểu tình, có quyền thể hiện chính kiến của mình.”

Chính vì vậy mà miền Nam đã ‘không thể thống nhất được dư luận và gặp phải sự chống đối từ bên trong’, ông Vũ phân tích. Tuy nhiên, ông cho rằng miền Nam không thể nào làm theo miền Bắc là xây dựng một chế độ toàn trị để có thể thắng cuộc chiến vì ‘nếu từ bỏ những giá trị tự do thì miền Nam còn đi chiến đấu để làm gì?’

“Việt Nam Cộng hòa vẫn trung thành với lý tưởng của mình cho dù họ có thua trong cuộc chiến đi nữa,” ông nói.

Điều này cũng được GS Asselyn đồng tình. Ông cho rằng mặc dù bên ngoài không nghe thấy về thái độ phản chiến trong lòng Bắc Việt nhưng điều này thật sự là có vì ‘cho đến những năm 1969-1971, người dân Bắc Việt đã quá mệt mỏi với chiến tranh vì họ cũng là con người’ nhưng ‘Hà Nội đã làm tốt hơn rất nhiều so với Sài Gòn trong việc bóp nghẹt những tiếng nói phản đối’.

Cũng tại hội thảo, trước câu hỏi về tình trạng tham nhũng và không có tính giải trình (unaccountability) của các quan chức miền Nam làm tổn hại như thế nào đến cuộc chiến của họ, GS Vũ thừa nhận rằng ‘chắc chắn có tình trạng tham nhũng và vấn đề giải trình và xu hướng của một số lãnh đạo như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu và một số tướng lĩnh có những hành động làm mất lòng tin của người dân, giới trí thức, xã hội dân sự và gặp khó khăn trong quan hệ với Mỹ’. Tuy nhiên, ông cho rằng xã hội lành mạnh và truyền thông độc lập ở miền Nam có thể đứng lên chống lại những hành vi vi phạm các chuẩn mực của nền Cộng hòa.

Về câu hỏi của VOA rằng đối với các nhà lãnh đạo miền Bắc thì mục tiêu chiến lược nào của họ là quan trọng hơn: dùng lá bài giải phóng dân tộc để tiến tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa xã hội hay dùng lý thuyết đấu tranh giai cấp để phục vụ cho việc giành độc lập dân tộc, ông Vũ cho rằng mục tiêu cuối cùng của các nhà lãnh đạo cộng sản ‘luôn là chủ nghĩa xã hội’ vì điều này ‘thể hiện rất rõ trong những văn kiện của Đảng Cộng sản từ những thập niên 30 cho đến 60’.

“Điều kiện cần thiết để họ đạt được mục tiêu đó (xây dựng chủ nghĩa xã hội) là quyền kiểm soát chính trị ở cả miền Bắc lẫn miền Nam,” ông giải thích và lấy dẫn chứng là cuộc cải cách ruộng đất mà thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn đã được các lãnh đạo miền Bắc đưa vào thực thi ngay cả trước khi họ đạt được mục tiêu giành độc lập dân tộc.

Về phần mình, GS Asselyn cũng cho rằng Hà Nội muốn thắng trong chiến tranh không chỉ vì mục tiêu thống nhất đất nước mà còn là ‘để tạo cảm hứng cho các phong trào cách mạng cánh tả khác trên thế giới’.

Tuy nhiên, chính sử của đảng Cộng sản cho rằng ông Hồ Chí Minh vì ra đi tìm đường cứu nước (độc lập dân tộc) mới tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lenin (Luận cương của Lenin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa) và xem chủ nghĩa xã hội là con đường giải phóng dân tộc. Trong khi đó, trước giờ các văn kiện của Đảng Cộng sản vẫn đặt hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội song song và ngang nhau.

Lung lạc dân Mỹ

Nhìn từ quan điểm của nước Mỹ, trong phần tham luận có tiêu đề ‘Cuộc đấu tranh chính trị không được để ý: Tại sao miền Nam Việt Nam và đồng minh thua cuộc chiến?’, GS Robert Turner thuộc Trường Luật Đại học Virginia nhấn mạnh rằng các nhà lãnh đạo cộng sản Bắc Việt ‘đã rất thành công trong việc làm cho người Mỹ quay lưng lại với cuộc chiến’.

“Chúng ta đã nói nhiều về việc Bắc Việt đã giành được khối óc và trái tim của người dân Việt Nam nhưng chúng ta ít khi để ý đến việc họ đã chiếm được tình cảm và suy nghĩ của người dân Mỹ,” ông Turner nói.

“Chúng ta tham chiến với sự ủng hộ áp đảo của người dân Mỹ,” ông nhắc và đưa ra dẫn chứng là tỷ lệ ủng hộ của Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tăng vọt lên thêm 30 điểm (tức tăng đến 58%) sau khi ông lần đầu tiên ra lệnh dùng vũ lực đối với miền Bắc Việt Nam và việc Quốc hội Mỹ đã cho phép sử dụng hành động quân sự với tỷ lệ 99,6% bỏ phiếu thuận trong khi hai nghị sỹ bỏ phiếu chống đã thất cử ngay sau đó.

Theo ông Turner thì cho đến năm 1970 nhiều quan chức và giới học thuật nhận thấy rõ là Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ‘đang trên đà thắng’, và điều này cũng được chính các quan chức ở Hà Nội nhìn nhận.

Ông lấy dẫn chứng là lời của Đại tá Bùi Tín, người vừa qua đời tại Paris, thuật lại vào giữa những năm 1990 rằng ‘kể từ năm 1965 thì Bộ Chính trị đã biết rằng họ không thể nào đánh thắng được Mỹ’ và ‘hy vọng duy nhất của Hà Nội là thắng lợi trong phong trào phản chiến ở Mỹ’.

Chính vì vậy, GS Turner cho rằng chính quyền Hà Nội và các đồng minh của họ đã tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị ‘tài ba’ để thay đổi lập trường của người dân Mỹ đối với cuộc chiến.

Ông dẫn lại nghị quyết của Hội nghị Trung ương 9 của Đảng Lao Động Việt Nam vào năm 1963 đã trình bày về chiến lược chiến tranh chính trị như sau: “Chúng ta phải tiến hành mọi nỗ lực để thúc đẩy các tổ chức yêu chuộng hòa bình của nhân dân Á, Phi, Mỹ Latin có hành động mạnh mẽ yêu cầu đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta cũng phải tranh thủ sự thông cảm và ủng hộ của nhân dân các nước đế quốc như Mỹ, Anh, Pháp’.

Chiến lược chiến tranh chính trị này thật ra đã được giới lãnh đạo cộng sản miền Bắc áp dụng từ cuộc chiến chống lại người Pháp. Ông Turner đã dẫn lời Tổng bí thư Trường Chinh viết vào năm 1947 rằng họ phải ‘cô lập kẻ thù, thêm nhiều bạn’ và tranh thủ sự ủng hộ của người dân Pháp, người dân ở các thuộc địa của Pháp và của ‘tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình’ trên thế giới.

“Dưới sức ép của các nhà hoạt động phản chiến, vào tháng 5 năm 1973, Quốc hội Mỹ đã thông qua luật để đưa tới thất bại từ ngưỡng cửa của chiến thắng,” ông Turner nói và cho biết đạo luật này đã dừng mọi chu cấp tài chính của Mỹ cho cuộc chiến ở Việt Nam.

Ngoài ra, theo GS Asselyn, các nguyên nhân khác giúp miền Bắc giành thắng lợi chung cuộc là ‘khả năng tổ chức tài tình về mặt đảng và mặt quân đội’, ‘sự kiên trì, bền bỉ đến không ngờ’, ‘khả năng phục hồi sau những thất bại thảm khốc như chiến dịch Mậu Thân 1968’, ‘biết lợi dụng chia rẽ giữa Moscow và Bắc Kinh để đạt được sự ủng hộ vật chất, chính trị và tinh thần của cả hai bên’, và việc Lê Duẩn và các cộng sự thân cận của ông ‘không hề quan tâm đến việc phải hy sinh bao nhiêu nhân mạng để đạt đến thắng lợi’.

Ngoài ra, sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong thắng lợi của miền Bắc mà nếu không, theo GS Tường Vũ, thì Hà Nội không thể nào thắng được Mỹ và Sài Gòn.

Ông Asselyn cho rằng nhờ vào sự ủng hộ của hai nước lớn này mà quân đội Bắc Việt, vốn phần lớn là nông dân, đã được huấn luyện và trang bị tốt ‘như bất cứ quân đội nào trên thế giới’.

“Bất chấp những sai lầm thảm họa của giới lãnh đạo và đặc biệt là của (Bí thư thứ nhất) Lê Duẩn, Bắc Việt Nam vẫn chiến thắng,” ông Asselyn kết luận.


Ngọc Lễ
VOA

Khởi tố cựu phó chủ tịch ở Sài Gòn vì liên quan vụ án Vũ ‘Nhôm’


Tám quan chức ở Sài Gòn và Đà Nẵng vừa bị bắt, bị khởi tố do liên quan vụ án Vũ “Nhôm” thì một nửa trong số đó đang đương chức.

Ông Nguyễn Hữu Tín trước khi nghỉ hưu. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Ngày 18 Tháng Chín, 2018, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Bộ Công An CSVN đã tiến hành các biện pháp tố tụng đối với một số cựu cán bộ ở Sài Gòn và Đà Nẵng do những sai phạm liên quan đến các dự án của ông Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “Nhôm”).

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, điều tra sai phạm tại các dự án liên quan đến ông Vũ “Nhôm” tại Sài Gòn, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra có quyết định khởi tố bị can, áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và lệnh khám xét chỗ ở, nơi làm việc bốn người, gồm các ông Nguyễn Hữu Tín (61 tuổi, cựu phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố ở Sài Gòn), Đào Anh Kiệt (61 tuổi, cựu giám đốc Sở Tài Nguyên-Môi trường ở Sài Gòn), Lê Văn Thanh (56 tuổi, phó chánh Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân thành phố ở Sài Gòn), Nguyễn Thanh Chương (44 tuổi, trưởng Phòng Đô Thị, Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân thành phố ở Sài Gòn).

Theo báo Zing, khoảng 7 giờ tối cùng ngày, công an đã khám nhà ông Nguyễn Hữu Tín nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, quận 1. Căn nhà nằm sâu trong con hẻm ở địa chỉ 2 Bis Nguyễn Thị Minh Khai. Phía đầu đường được thiết kế cánh cửa sắt khá lớn.

Khoảng 8 giờ tối, một chiếc xe hơi biển số 80A đã rời khỏi căn nhà trên.

Rất nhiều bảo vệ dân phố được điều đến trước cổng nhà ông Nguyễn Hữu Tín. (Hình: Zing)

Cùng ngày, mở rộng điều tra sai phạm tại các dự án liên quan đến Phan Văn Anh Vũ tại Đà Nẵng, cùng ngày, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Bộ Công An CSVN đã khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh khám xét chỗ ở, nơi làm việc đối với các ông Đào Tấn Bằng (43 tuổi, cựu chánh Văn Phòng Thành Ủy Đà Nẵng, cựu phó chánh Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, nay là bí thư Đảng Ủy Khối Các Khu Công Nghiệp Đà Nẵng), Nguyễn Viết Vĩnh (40 tuổi, cựu trưởng Phòng Quản Lý Đô Thị Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, nay là giám đốc Cảng Vụ Đường Thủy Nội Địa) về hành vi vi phạm các quy định về quản lý đất đai.

Hai người khác cũng bị khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú và khám xét chỗ ở cùng hành vi trên là hai ông Nguyễn Văn Cán và Phan Xuân Ít, cùng 64 tuổi, đều là cựu chánh và phó chánh Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng.

Theo báo Thanh Niên, lúc 6 giờ chiều cùng ngày, đoàn công tác Bộ Công An gồm bốn người đã có mặt tại nhà ông Đào Tấn Bằng, gặp người nhà ông Bằng tại địa chỉ K37/27 Hải Hồ, phường Thanh Bình, quận Hải Châu.

Vào thời điểm này chỉ có hai con của ông Bằng mới đi học về. Người nhà cũng đã có mặt khi công an đến và mở cửa mời lực lượng chức năng vào. Đến 6 giờ 34 phút, công an đưa từ nhà ông Bằng ra ngoài một vali nhỏ, cất vào xe hơi.

Lúc 8 giờ 15 phút cùng ngày, công an kết thúc khám xét nhà riêng ông Bằng sau hơn 2 giờ làm việc. Công an rời đi và mang theo một thùng tài liệu.

Nhà riêng ông Đào Tấn Bằng. (Hình: Thanh Niên)

Cùng thời điểm khám xét nhà riêng ông Bằng, công an đã có mặt tại nhà riêng của ông Nguyễn Viết Vĩnh ở số 52 Hoàng Bích Sơn, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, để khám xét nơi ở.

Ông Phạm Văn Vinh (73 tuổi, tổ trưởng tổ dân phố 93, phường An Hải Bắc) cho biết ông được công an phường mời đến nhà riêng của ông Vĩnh để chứng kiến việc xét nhà và đọc lệnh bắt.

“Khi tôi đến nhà ông Vĩnh thì không có ông Vĩnh ở nhà, chỉ có vợ ông Vĩnh phối hợp để lực lượng công an thực hiện nhiệm vụ,” ông Vinh nói.

Theo báo Zing, ông Vũ “Nhôm” tên thật là Phan Văn Anh Vũ, được biết đến là một đại gia bất động sản, giữ chức chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Bắc Nam 79, và là cổ đông của nhiều công ty khác.

Ngày 21 Tháng Mười Hai, 2017, Cơ Quan An Ninh Điều Tra Bộ Công An đã khám nhà riêng của ông Vũ ở Đà Nẵng. Do ông Vũ không có mặt tại nơi cư trú, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã.

Ngày 2 Tháng Giêng, 2018, Cơ Quan Xuất Nhập Cảnh và Cửa Khẩu Singapore (ICA) cho biết đang tạm giữ người có tên Phan Van Anh Vu từ ngày 28 Tháng Mười Hai, 2017, vì vi phạm Luật Di Trú. Hai hôm sau, chuyến bay Vietnam Airlines từ Singapore về Hà Nội chở ông Vũ đã hạ cánh tại phi trường quốc tế Nội Bài. Ngay sau đó, Bộ Công An phát đi thông báo cho biết cơ quan điều tra đã tiếp nhận, bắt bị can Vũ để điều tra theo quy định của pháp luật.

Ngày 7 Tháng Hai, Bộ Công An đã ra quyết định khởi tố bị can, tạm giam bốn tháng đối với ông Vũ về hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” để làm rõ vi phạm pháp luật của ông này và các cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc mua, bán các nhà, đất công sản tại thành phố Đà Nẵng và một số tỉnh, thành phố khác.

Ông Phan Văn Anh Vũ bị tòa tuyên án 9 năm tù tại phiên xử cuối Tháng Bảy, 2018. (Hình: Thông Tấn Xã Việt Nam)

Trung tuần Tháng Tư, ông Vũ tiếp tục bị khởi tố về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” để điều tra về khoản tiền 200 tỷ (hơn $8.5 triệu) Ngân Hàng Đông Á bị thất thoát.

Ngày 30 Tháng Bảy, Tòa Án Nhân Dân Hà Nội tuyên phạt ông Phan Văn Anh Vũ 9 năm tù về tội “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước.”

Điều tra vụ án “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước, trốn thuế, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ của Phan Văn Anh Vũ,” ngày 17 Tháng Tư, Bộ Công An có quyết định khởi tố bảy bị can. Trong số này, ông Phan Hữu Tuấn (cựu tổng cục phó Tổng Cục Tình Báo, Bộ Công An) và ông Nguyễn Hữu Bách (cán bộ Bộ Công An) cùng bị khởi tố về hành vi “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước.”

Còn ông Trần Văn Minh (cựu chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng giai đoạn 2006-2011) và ông Văn Hữu Chiến (cựu chủ tịch ủy ban Đà Nẵng giai đoạn 2011-2014) bị khởi tố về các hành vi “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và “Vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý đất đai.”

Ba bị can khác bị khởi tố để điều tra hành vi “Vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý đất đai” là các ông Nguyễn Điểu (cựu giám đốc Sở Tài Nguyên-Môi Trường Đà Nẵng), Trần Văn Toán (cựu phó giám đốc Sở Tài Nguyên-Môi Trường Đà Nẵng) và Lê Cảnh Dương (giám đốc Ban Xúc Tiến và Hỗ Trợ Đầu Tư Đà Nẵng).

Đến ngày 9 Tháng Tám, Bộ Công An tiếp tục tống đạt các quyết định khởi tố bị can, lệnh cấm đi khởi nơi cư trú và khám xét nhà riêng, nơi ở của bốn cựu lãnh đạo doanh nghiệp ở Đà Nẵng do có liên quan đến sai phạm của ông Phan Văn Anh Vũ, gồm các ông Trần Phi (cựu tổng giám đốc Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Đà Nẵng), Nguyễn Công Lang (cựu giám đốc Công Ty Quản Lý Nhà Đà Nẵng), Huỳnh Tấn Lộc (cựu chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Công Nghệ Phẩm Đà Nẵng), Phan Ngọc Thạch (cựu chủ tịch Hội Đồng Quản Trị, Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Du Lịch Đà Nẵng).

Các cá nhân trên bị cáo buộc có liên quan đến một số vụ mua bán, chuyển nhượng nhà, đất công sản tại Đà Nẵng cho các công ty liên quan đến Vũ.


Người Việt

Nhà văn Kim Thúy ‘nhìn chữ là thấy thương’


“Không có. Không có.” Kim Thúy cười lớn, khẳng định “không có” chuyện cô sẽ đoạt Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương (the New Prize in Literature), được mệnh danh “giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương 2018.”

Nhà văn Kim Thúy tại Festival America, tháng 9, 2010. (Hình: Camille Gévaudan)

Giải thưởng mới “tính theo số người bỏ phiếu.” Kim Thúy nói với VOA, cô ngạc nhiên, và độc giả của cô cũng ngạc nhiên, về việc cô có tên trong số 47 tác giả được đưa ra cho công chúng bình chọn.

“Chẳng hạn, trong 47 người đó, có nhà văn Rowling. Chỉ cần 0.01% độc giả của Rowling bỏ phiếu, thì tôi đã không có tên trong số 4 người [vào vòng trong].” Rồi cô cười lớn, “chắc Rowling không để ý.”

Hàn Lâm Viện Thụy Điển quyết định hoãn công bố giải Nobel Văn Chương 2018 do các điều tiếng về scandal liên quan đến giám khảo của giải thưởng danh giá này. Vì lý do ấy, các quản thủ thư viện Thụy Điển cùng thành viên trong cộng đồng văn hóa và nghệ thuật quyết định lập ra một giải thưởng khác, chỉ trong năm nay, để lấp vào khoảng trống của Nobel Văn Chương.

Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy.

Nhà Văn Kim Thúy
Văn bản nói về lý do ra đời của Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương có đoạn: “Trong thời điểm mà giá trị nhân văn ngày càng bị thách thức, thì văn chương trở thành lực đối kháng với sự đàn áp và thái độ vô cảm. Bây giờ là thời điểm quan trọng hơn bao giờ hết giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới phải được trao tặng.”

Các thành viên trong ban tổ chức Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương chọn ra danh sách 47 nhà văn trên toàn thế giới, rồi để công chúng bình chọn. Bốn người có số phiếu cao nhất sẽ được xét chọn bởi ban giám khảo, gồm giáo sư văn chương Lisbeth Larsson, nhà báo kiêm thủ thư Marianne Steinsaphir, nhà phê bình kiêm chủ bút Peter Stenson, và giám đốc thư viện, Gunilla Sandin.

Trả lời tờ báo National Post, Kim Thúy cũng nói xác suất để mình thắng giải thưởng này là “dưới zero phần trăm.” Cô nói về 3 nhà văn trong danh sách được bình chọn (Maryse Condé - the Guadeloupe và Pháp, Haruki Murakami - Nhật Bản; và Neil Gaiman - Anh): “Họ là những biểu tượng văn hóa – những nhà văn dày dạn kinh nghiệm – trong khi tôi chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.”

Rồi cô nói đùa: “Có thể gia đình tôi hơi đông người!”

Kim Thúy thật lòng không tin mình sẽ thắng giải, và cô bông đùa thoải mái về giả thuyết sẽ trở thành “khôi nguyên giải thưởng thay thế Nobel Văn Chương.”

Thế nhưng, con đường đi vào văn chương của tác giả các tác phẩm có tựa đề độc đáo, “Ru,” “Vi,” “Man,” lại mang đậm sự ray rứt về thân phân con người di dân, tị nạn, và lòng yêu mến đến sâu thẳm giá trị văn hóa Việt Nam.

“Tôi hãnh diện về vẻ đẹp của Việt Nam mình. Có những cái nhỏ, nhỏ, nhỏ của Việt Nam mình mà mình không để ý tới. Chẳng hạn chữ “ru,” không ngờ một chữ “ru” mà đẹp đến như vậy. Khi tôi tìm đến tiếng Pháp thì chữ “ru” trong tiếng Pháp rất dài. Ru con ngủ là một cái gì rất là dài, thế mà “ru” chỉ là một chữ thôi. Thành ra tôi thấy nó hay quá đi, và thấy mình phải chia sẻ.” Kim Thúy nói với VOA.


Cách “chia sẻ” của Kim Thúy cũng rất lạ: Cô muốn, qua mỗi tác phẩm của mình, độc giả ngoại quốc lại được học thêm một vài chữ tiếng Việt. Và sự chia sẻ ấy bắt đầu ngay từ tựa đề của sách.

“Chỉ một “sound” đã có ý nghĩa rồi. Chữ “Man,” tức là “Mãn”, đẹp thế nào. Mãn, là mãn nguyện. Nhìn chữ là thấy thương. Hay “ru,” tiếng Pháp cũng có ý nghĩa. “Man,” tiếng Anh cũng có nghĩa. “Vi,” cũng gần như “C’est la Vie” trong tiếng Pháp. Lúc nào cũng có ý nghĩa của 2, 3 ngôn ngữ. Nhưng lúc nào cũng muốn có tiếng Việt Nam. Tôi muốn độc giả thấy chữ viết của tiếng Việt mình. Tức là độc giả của tôi bây giờ biết ít nhất là một chữ tiếng Việt. Còn trong tác phẩm “Man,” gần như mỗi trang đều có một chữ tiếng Việt, để người ta thấy tiếng Việt mình có dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng…”

“Ru”, xuất bản cách đây gần 10 năm, là một trong những tác phẩm thành công nhất của Kim Thúy. Tác phẩm, được viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang 27 ngôn ngữ, gần đây nhất là dịch sang tiếng Ukraine.

Nhưng Kim Thúy “thấy buồn” khi “Ru” đến nay vẫn còn “ăn khách.”

“Có nhiều nước mua và dịch Ru ra tiếng của họ, bây giờ vẫn còn, thành ra tôi thấy Ru cứ còn mới như là một em bé. Nhưng rất buồn là còn phải dùng chữ di dân, tị nạn trong tác phẩm, chỉ mong là một ngày nào không cần dùng chữ này nữa thôi. Nhưng mà rồi chiến tranh hết ở đây rồi ở kia. Thành ra ở phương diện ấy, nếu cuốn sách này còn mới hoài, còn nói về vấn đề của hiện tại bây giờ… Tôi mong là một ngày nào đó, cuốn sách này chỉ nói về một chuyện rất xa xưa trong quá khứ, không ăn nhập gì với thời hiện tại.”

Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ.

Nhà Văn Kim Thúy
Kim Thúy vượt biên năm 1978, lúc mới 10 tuổi, rồi sang định cư tại Canada. Cô tốt nghiệp ngành Luật, đến năm 1998 thì về Việt Nam làm việc 4 năm. Đối với cô, 4 năm này là cơ hội để cô học lại văn hóa Việt Nam, là văn hóa mà cô tưởng mình “đã hiểu”.

“Thật ra thì tôi thấy tôi nhầm cơ. Tưởng là hiểu Việt Nam, mà thật ra trở lại Việt Nam sau 20 năm thì Việt Nam trở thành một xứ khác rồi. Mà ở đâu cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi. Tôi sanh ở Sài Gòn mà khi trở về làm việc là làm ở Hà Nội, lại là một xứ mới (cười lớn). Và như vậy phải học trở lại, và nhờ học trở lại tôi tìm ra cái đẹp đặc sắc của Việt Nam mình. Nếu không trở lại Việt Nam trong 4 năm đó, tôi không nghĩ có thể viết được; sẽ không thể biết làm sao để trân quý vẻ đẹp riêng của Việt Nam. Thành ra nhờ 4 năm ấy, trở về một nơi mình nghĩ mình biết, mà mình không biết, đó là một sự học hỏi phải làm lại từ đầu.”

Kim Thúy luôn khẳng định, rằng cô không chọn văn chương, mà văn chương chọn cô, từ một sự tình cờ nằm ở những đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư đường tại Montreal.

“Tôi ngủ gục quá nhiều ở các đèn đỏ. Ngủ gục ở đèn đỏ thì rất nguy hiểm, nên lúc đầu tôi ăn hạt dưa. Nhưng ăn hạt dưa riết rồi hư răng. Thành ra đổi lại viết lúc dừng đèn đỏ. Thành ra cuốn sách này (Ru) là do những cái đèn đỏ. Mà tôi thích quá nên hay tìm những cái đèn đỏ lâu nhất, dài nhất ở Montreal để đi. Nhiều khi đi thành một vòng để tìm đèn đỏ dài thiệt dài để mình có thể viết tí xíu.”

“Lúc đầu cũng định thử [viết] một tháng thôi, và vì mình xuất thân là di dân, tị nạn. Rồi một tháng thành hai tháng, rồi năm tháng, rồi một năm, rồi thành một cuốn sách. Và cũng không nghĩ cuốn sách được nhiều người đọc như thế. Bây giờ nếu có ai mời nói về vấn đề di dân thì em cám ơn, vì có cơ hội nói cho những người đó; vì ít khi mình đưa microphone cho một người di dân, một người tị nạn nói. Thành ra, nếu tôi có cơ hội được đứng lên nói cho những người không có cơ hội, những người vượt biển mất tích hoặc chết ở biển, thì tôi nghĩ tôi có trách nhiệm nói giúp cho họ. Và hễ có cơ hội thì cứ nói, nhất là bây giờ có nhiều vấn đề về di dân.”

The CBC, hãng tin Canada, 47 nhà văn được chọn có nhiều lối viết và thể loại khác nhau, từ nhà văn hư cấu nổi tiếng Haruki Murakami, Cormac McCarthy, Don DeLillo, Zadie Smith và Elena Ferrante, đến các nhà văn viết cho thiếu nhi, như J.K. Rowling và Meg Rosoff, hay nhạc sĩ Patti Smith và nhà văn châm biếm giả tưởng nổi tiếng Neil Gaiman.

Trong khi ấy, Kim Thúy, nhà văn Canada gốc Việt, thì cho rằng mình được chọn chỉ vì nói đúng chuyện vào “đúng lúc, đúng thời.”

“Cuốn sách Ru là do một người bạn của Kim Thúy cầm mang đến một nhà xuất bản chứ bản thân tôi không có liếm tem, bỏ vào bao thơ để gởi. Thế rồi cuốn sách được chấp nhận rất nhanh. Thành ra cuốn sách này là ai chọn tôi chứ cá nhân chỉ là người gởi thông điệp.”

Và vai trò “gởi thông điệp,” theo Kim Thúy, chỉ có tính giai đoạn: “Rồi năm năm sau, vai trò đó lại trao cho người khác rồi tôi đi làm chuyện khác (cười lớn). Người Việt Nam mình hay nói “đúng lúc, đúng thời”, thì tôi chỉ nói cuốn Ru là đúng lúc, đúng thời.”

Lịch sử dân tộc là một cuốn sách dày, và Kim Thúy chỉ e rằng, một trang trong cuốn sách lịch sử ấy sẽ mất đi, hay bị bỏ trống, chỉ vì những chứng nhân của giai đoạn ấy không kịp viết lại những điều đã xảy ra. Viết, và viết đúng sự thật đã xảy ra, là thông điệp mà cô muốn gởi đến độc giả gốc Việt của mình: “Quan trọng là tất cả chúng ta đều viết, không chỉ văn sĩ mới viết. Những gì chúng ta viết là để lại cho thế hệ mới, giống như dây curoa, luôn tiếp tục vận hành. Mình là con cháu của ông bà mình, chứ không chỉ là mình, thành ra, tôi mong lúc nào cũng viết để để lại. Bởi vì “trang” ấy, không có sách lịch sử nào viết lại cả.”

Và mọi câu chuyện của từng người Việt Nam đã sống qua một giai đoạn nào đó, được cho vào một chiếc hộp, để các thế hệ sau có thể trở vô để đọc, từng câu chuyện một.


Nhà văn Kim Thúy
VOA

Vì sao bà Ngân bị ‘bịt miệng’ sau khi dám ‘mở miệng’?


Lịch sử chính trị đã vô số lần chứng minh rằng ngay cả những người quen não trạng phát ngôn vô thưởng vô phạt hoặc ba phải nhất cũng không tránh được ít nhất một lần bị độc tài bịt miệng.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân - người mà mới đây đã gián tiếp thừa nhận được hưởng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa "chúng tôi ngày xưa đi học đâu đến mức vậy mà từ tên núi, tên sông, tên cao nguyên, thể hiện trên bản đồ sẽ ở đoạn nào giờ vẫn không thể quên được", nhưng lại đã góp công không ít cho một chế độ độc tài đang biến tiếng Việt thành một cái thùng rác của các dự án ‘cải cách’ ăn đậm ngân sách và tiến đóng thuế của dân - là một minh chứng mới nhất của lịch sử chính trị hiện đại ở Việt Nam.

Nguyễn Thị Kim Ngân ‘yêu nước’?

"Có người nói vi hiến. Liệu có vi hiến, có vi phạm pháp luật không, vì trên một đất nước sử dụng 2 đồng tiền? Phải trả lời câu hỏi này. Tất nhiên, quy định này chỉ ở khu vực biên mậu, tức là khu vực thương mại ở biên giới thôi, nhưng cũng phải xem lại" - Nguyễn Thị Kim Ngân bất chợt ‘mở miệng’ trong một phiên họp của Ủy ban Thường vụ quốc hội vào trung tuần tháng Chín năm 2018, để sau đó "Tôi đã chỉ đạo anh Nguyễn Hồng Thanh (Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội) và anh Phùng Quốc Hiển (Phó chủ tịch Quốc hội) xem lại, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xử lý vấn đề này" .

Đây là một lần hiếm hoi mà bà Ngân tỏ ra quan tâm đến ý kiến trái chiều của người dân và giới bất đồng chính kiến ở Việt Nam.

Nhưng chỉ vài giờ đồng hồ sau khi những phát ngôn của bà Ngân được báo Thanh Niên tường thuật nguyên văn, toàn bộ nội dung phát ngôn đó đã biến mất khỏi bài báo.

Chẳng có gì khó hiểu nếu liên hệ với thủ pháp ‘xóa gỡ thông tin xấu độc’ mà Ban Tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông vẫn thường yêu cầu các nhà mạng và báo điện tử nhà nước phải cắm mặt cung cúc làm theo từ trước tới nay.

Hiện tượng báo Thanh Niên phải ‘xóa thông tin xấu độc’ về phát ngôn của Nguyễn Thị Kim Ngân xảy ra trong bối cảnh hàng trăm nhân sĩ, trí thức gửi một kiến nghị thư cho giới chóp bu Việt Nam, yêu cầu xóa bỏ Thông tư số 19 của Ngân hàng nhà nước về việc cho phép 7 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam được dùng đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc để thanh toán.

Về thực chất, Thông tư 19 đã hợp thức hóa cho thực tế đồng CNY đã được lưu hành và thanh toán tràn lan ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trong hàng chục năm qua, bất chấp những quy định của Hiến pháp về tiền tệ và Pháp lệnh Ngoại hối.

Về mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế, Thông tư 19 bị xem là một thất bại lớn, một thất bại cố ý và càng khiến người dân Việt có cơ sở để mang nỗi tuyệt vọng rằng bản Hiệp ước Thành Đô - được cho là đã được lén lút ký kết giữa các lãnh đạo Việt Nam với lãnh đạo Trung Quốc vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX để đưa Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Quốc vào năm 2020 - đang được giới lãnh đạo hậu bối của Việt Nam rắp tâm thi hành bằng thủ đoạn ‘sáp nhập tiền tệ’ trước khi tiến tới ‘sáp nhập lãnh thổ’.

‘Bịt miệng’ dày đặc chưa từng có!

Chỉ trong hai năm 2017 và 2018, số quan chức cao cấp bị ‘bịt miệng’ đã dày đặc hơn hẳn nhiều năm trước đây. Một vụ cho năm 2017 và ba vụ khi năm 218 chỉ mới qua 3 quý đầu.

Từ Đinh La Thăng, Trương Minh Tuấn đến Trần Đại Quang, và giờ đây là Nguyễn Thị Kim Ngân.
Vào cuối tháng Tư năm 2017 khi còn là bí thư thành ủy TP.HCM, Đinh La Thăng đã vội vã làm bản giải trình về trách nhiệm của ông ta khi còn là Chủ tịch hội đồng thanh viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, sau đó chỉ đạo Văn phòng thành ủy gửi đến 200 ủy viên trung ương như một cách “minh bạch hóa thông tin” và phản bác kết luận kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra trung ương đối với những sai phạm bị xem là “rất nghiêm trọng” của ông Thăng. Nhưng ngay sau đó, Văn phòng trung ương đảng đã chỉ thị thu hồi toàn bộ bản giải trình của ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng. Thu thẳng tay từ những người còn chưa kịp bóc bao thư, không cần một sự tế nhị nào.

Gần một năm sau, ngay sau khi Thanh tra chính phủ công bố kết luận thanh tra vụ ‘MobiFone mua AVG’ vào tháng Ba năm 2018, bản giải trình của Bộ trưởng thông tin và truyền thông Trương Minh Tuấn nhưng không ký tên mà chỉ in dấu treo của Bộ TT-TT cũng đã bị “thu hồi”. Nhưng còn nặng nề hơn trường hợp Đinh La Thăng, quyền tự do ngôn luận của “kẻ bịt miệng” báo chí nhà nước là Trương Minh Tuấn đã bị chính những đồng chí không đồng lòng của ông ta bịt miệng.

Ngày 19/6/2018, bài báo "Chủ tịch nước đồng ý cần ban hành Luật biểu tình" với nội dung ban đầu là "Tiếp xúc cử tri với vai trò đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trần Đại Quang nói ông đồng tình với kiến nghị cử tri cần có luật Biểu tình và hứa báo cáo Quốc hội về nội dung này" - đăng trên báo Tuổi Trẻ - đã bị biến dạng chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi lên trang. Nội dung bài đã được sửa lại và không còn bất kỳ phát ngôn nào của Trần Đại Quang liên quan luật Biểu tình, mà chỉ còn thấy ông Quang ‘chuyên chính vô sản’ về những vụ việc nghiêm trọng xảy ra tại Bình Thuận, TP.Hồ Chí Minh là “do các đối tượng chống đối, kích động, lôi kéo".

Trần Đại Quang Nguyễn Thị Kim Ngân - hai nhân vật không chỉ là ủy viên bộ chính trị mà còn nằm trong ‘tứ trụ triều đình’ của chính thể độc đảng chuyên quyền ở Việt Nam. Xem ra số phận của ông Quang và bà Ngân cũng bị các đồng chí của mình đối xử chẳng khác gì hai trường hợp Đinh La Thăng và Trương Minh Tuấn.

Xung đột ngầm?

Nguyễn Thị Kim Ngân, ‘trưởng thành cách mạng’ từ tỉnh Bến Tre, được dư luận chung đánh giá là một người đàn bà có trí tuệ rất khiêm tốn, ưa diện những chiếc áo dài giá hàng trăm triệu đồng và thuộc dạng ‘ngoan hiền dễ bảo’ trong chính trường - nền tảng vững chãi để ‘đi lên’.

Từ khi trở thành người đứng đầu cơ quan dân cử tối cao ở Việt Nam, bà Ngân thậm chí còn hiếm hoi phát ngôn mang tính ‘phản biện’ hơn cả người tiền nhiệm là Nguyễn Sinh Hùng, trong khi ấn tượng lớn mà bà đã tạo ra là triệt để tuân thủ quan điểm ‘cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp’ của Nguyễn Phú Trọng khi tiếp tục nhét vào ngăn kéo hai dự luật về quyền biểu tình và về quyền lập hội của người dân - được hiến pháp công nhận từ năm 1992.

Vào tháng Năm năm 2016, khi nổ ra phong trào biểu tình quy mô lớn và trên diện rộng của nhân dân các tỉnh miền Trung phản đối thảm họa xả thải của nhà máy Formosa, Nguyễn Thị Kim Ngân không chỉ dùng từ ‘sự cố’ đối với thảm họa này mà còn quy kết ‘các thế lực thù địch lợi dụng biểu tình để gây rối’. Toàn bộ Quốc hội đã câm nín trước thảm họa này.

Hai năm sau đó, bà Ngân lại một lần nữa nổi tiếng với phát ngôn ‘Bộ Chính trị đã kết luận rồi…’ trước một quốc hội ‘nghị gật’, như một cách nói nặng thói áp đặt hầu mong ‘Luật bán nước’ (một tục danh mà người dân dùng để gọi Luật Đặc khu) được thông qua nhanh chóng với tỷ lệ ‘thống nhất cao’.

Nhưng hiện tượng ‘mở miệng’ của Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về Thông tư 19 của Ngân hàng nhà nước lại cho thấy ít nhất một tấm màn hé mở: chủ trương ‘Nhân dân tệ hóa biên giới phía Bắc Việt Nam’ đã không nhận được sự đồng thuận cao của ‘tập thể Bộ Chính trị’, có thể bởi những lý do thuộc về lợi ích hay quyền hành cá nhân chứ không đặt trên căn bản lợi ích và chủ quyền quốc gia.

Hiện tượng ‘phản biện’ của Nguyễn Thị Kim Ngân - người không có thói quen nói đến những vấn đề nhạy cảm chính trị - về Thông tư 19 cho thấy văn bản này có thể đang biến thành một tâm điểm tranh cãi và phát sinh mâu thuẫn nội bộ gay gắt, thậm chí còn có thể trở thành một trong những hạt nhân cho cuộc xung đột chính trị tương lai trong đảng.

Hiện tượng ‘mở miệng’ và sau đó bị ‘bịt miệng’ của Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân xảy ra trong bối cảnh mối quan hệ Việt Trung ngày càng căng thẳng và có nguy cơ dẫn đến một cuộc xung đột quân sự ở quy mô vừa trong tương lai không xa, cùng lúc diễn ra những xung đột ngầm của một quan điểm - lực lượng tạm gọi là ‘giãn Trung - hướng Mỹ’ với thế lực ‘thân Trung’, và với một bộ phận quan chức bị dân xem là ‘bán nước’ trong nội bộ đảng Cộng sản ở Việt Nam.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Khi thực tình, thực học, thực tài thiếu thực quyền


Thiên hạ đang sửng sốt khi chính quyền tỉnh Tiền Giang tuyên bố sẽ chi 1,2 tỉ và vận động dân chúng trong tỉnh góp thêm khoản tương đương để thực hiện dự án dùng lục bình chống sạt lở. Giới hữu trách tại Tiền Giang cho biết tỉnh này có 67 điểm sạt lở và mỗi năm, công quỹ phải chi hàng chục tỉ đồng để chống sạt lở. Giờ, nếu trồng lục bình làm “kè” – cắm cọc, giăng dây cách bờ sông, rạch chừng ba mét rồi thả lục bình vào đó, chi phí chỉ chừng 200.000 đồng/mét, rẻ mà “hiệu quả” thì “rõ rệt” (1).

Hình minh họa.

Tháng trước, cũng chính quyền tỉnh Tiền Giang loan báo sẽ mở một “chiến dịch diệt lục bình”. Cũng theo giới hữu trách tại Tiền Giang thì tỉnh này có 1.200 cây số kênh, rạch bị lục bình bao phủ, tính ra có hơn 9 triệu mét vuông mặt nước bất khả dụng vì lục bình. Tuy là có máy vớt lục bình nhưng tỉnh này quyết định không dùng mà vận động dân chúng vớt – hủy lục bình theo kiểu thủ công, chi phí khoảng 1.000 đồng/mét vuông. Tổng chi phí cho “chiến dịch diệt lục bình” dự trù hơn… 8 tỉ (2).

Nhìn một cách tổng quát, tại Tiền Giang đang có hai dự án được thực hiện song song: Một trồng lục bình chống sạt lở và một… diệt lục bình. Tổng chi phí cho hai dự án này chừng… 10 tỉ! Tuy hai dự án vừa kể có vẻ mâu thuẫn với nhau nhưng ông Nguyễn Thiện Pháp, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão của tỉnh Tiền Giang tỏ ra rất tự tin khi Tiền Giang triển khai cùng lúc cả hai, Ông Pháp giải thích: Dự án trồng lục bình làm “kè” được thực hiện tại những tuyến kênh lớn, dòng chảy mạnh, nhiều ghe, tàu lưu thông gây sạt lở. Còn dự án diệt lục bình thực hiện tại những công trình ngăn mặn, trữ ngọt khép kín, lục bình ứ lại theo dòng, gây cản trở lưu thông, ảnh hưởng sản xuất!

Trên thực tế, đúng là lục bình đang đe dọa hệ thống sông rạch không chỉ ở Tiền Giang mà còn gây ra nhiều vấn nạn nghiêm trọng cho sinh hoạt, giao thông đường thủy, môi sinh, môi trường của đồng bằng sông Cửu Long. Thực tế đó đã được nhiều chuyên gia cả trong lẫn ngoài Việt Nam dự đoán cách nay vài thập niên, trước khi các dự án thủy lợi, sống chung với lũ, ngăn mặn – ngọt hóa được triển khai. Lục bình ứ lại, sanh chuyện ở các công trình – con đẻ của những dự án vừa kể chỉ là một khía cạnh trong chuỗi hậu quả nhãn tiền. Tương tự, sạt lở kênh, rạch, bờ sông, bờ biển cũng là một vấn nạn trầm trọng chẳng riêng tại đồng bằng sông Cửu Long, vấn nạn ấy phổ biến trên toàn Việt Nam. Thực tế này cũng đã được nhiều chuyên gia trong và ngoài Việt Nam cảnh báo trước khi các dự án quy hoạch – phát triển đủ thứ được triển khai song song với việc khai thác cát tràn lan.

Chắc chắn là sau khi xài hết hơn 8 tỉ diệt lục bình, môi sinh, môi trường ở tỉnh Tiền Giang cũng chẳng khá hơn vì các dự án thủy lợi, sống chung với lũ, ngăn mặn – ngọt hóa vẫn còn đó và tất nhiên, vẫn tiếp tục phát huy tác hại. Giống như vậy, cứ cho là “kè lục bình” có “hiệu quả rõ rệt” như ông Pháp khẳng định, chính quyền tỉnh Tiền Giang có xài hết 1,2 tỉ, chính quyền các tỉnh khác xài hết vài chục tỉ, vài tăm tỉ thì sạt lở chắc chắn sẽ còn diễn ra dài dài, kè nào ngăn chặn được sự thay đổi dòng chảy, xoay chuyển quy luật lở - bồi khi vừa chống sạt lở, vừa cấp giấy phép, kể cả làm ngơ để khai thác cát tiếp tục diễn ra trên diện rộng (3), tới mức dân chúng không thể ngồi yên nhìn nhà cửa, vườn tược, ruộng đồng thi nhau sụp xuống sông nên tự vũ trang (4), tự tuần tra (5) để chống bởi chính quyền khoanh tay, nhìn hướng khác?

***

Trong khi các viên chức hữu trách ở Tiền Giang xem lục bình như lý do cần chi khoảng 10 tỉ tiền thuế thì dưới mắt giới rành rẽ chuyên môn, lục bình có thể “biến họa thành phúc”, bởi lục bình vừa là nguồn phân bón tự nhiên không nguy hại cho môi sinh, môi trường, gia tăng khả năng kháng sâu bệnh, giúp phục hồi các vùng đất cằn cỗi do lạm dụng phân hóa học, vừa có thể chế biến thành thức ăn gia súc, nguyên liệu làm hàng thủ công, chưa kể lục bình còn có khả năng hấp thụ kim loại nặng và các chất hữu cơ gây ô nhiễm – một thứ công cụ xử lý ô nhiễm nước (6).

Tại sao không thể hoạch định, xác lập kế hoạch biến lục bình từ họa thành phúc? Giống như trước nay, dẫu có thực tình, thực học, thực tài, giới rành rẽ chuyên môn vẫn chỉ có thể đứng ở bên ngoài, thỉnh thoảng “chõ miệng nói vào” rồi… thôi!

Câu chuyện Tiền Giang vừa diệt, vừa trồng lục bình trở thành đáng quan tâm không đơn thuần chỉ là cách dùng tiền thuế. Đó là một lớp trong bi kịch nhiều lớp về cách lựa chọn và dụng nhân.

Nếu đừng “qui hoạch nhân sự lãnh đạo” từ trung ương đến địa phương theo kiểu chỉ tuyển chọn – sắp đặt – giao quyền lực vào tay các cá nhân “trung thành với Đảng CSVN” thì thực trạng kinh tế - xã hội, môi sinh, môi trường sống không như hiện nay.

Trong vòng mười năm gần đây, giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Việt Nam mới đề cập đến “thu hút nhân tài”. Tuy nhiên “thu hút” để làm gì khi không cần và không muốn dùng nhiệt huyết, kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia, chuyên viên, không tôn trọng các phân tích và cũng chẳng thèm bận tâm tới các cảnh báo, khuyến cáo của giới có chuyên môn? Nếu hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Việt Nam thật sự tôn trọng – lắng nghe, xem đó là thực quyền của nhân tài, Việt Nam đâu có chìm sâu trong nợ, kinh tế đâu có suy thoái liên tục, môi sinh, môi trường tan hoang vì những “chủ trương lớn” kiểu như “khai thác bauxite ở Tây Nguyên”. Câu chuyện Tiền Giang vừa diệt, vừa trồng lục bình cũng thế thôi!


Trân Văn
Blog VOA

Có máu, may ra mới được thấy ‘công lý’ le lói


Cuối cùng, cũng có nơi (Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước) đề nghị Tòa án Tối cao kháng nghị, hủy hai bản án dân sự (một của Tòa án thị xã Đồng Xoài, một của Tòa án tỉnh Bình Phước), phân xử vụ tranh chấp đất giữa gia đình ông Võ Chánh và ông Lê Quang Dinh (1).

Bình Định: Tự thiêu phản đối cưỡng chế nhà.

Năm 1999, ông Chánh mua 48 mét vuông đất ở phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài để làm nhà. Năm 2004, ông Chánh mua thêm 99 mét vuông nữa cũng từ chủ đất cũ để mở rộng nhà. Năm 2009, chính quyền địa phương thu hồi 50/147 mét vuông đất của ông Chánh để thực hiện dự án thoát nước. Diện tích mảnh đất có căn nhà mà vợ chồng ông Chánh làm chủ còn 97 mét vuông.

Năm 2011, vợ chồng ông Lê Quang Dinh – mua mảnh đất cạnh nhà ông Chánh năm 2010, kiện vợ chồng ông Chánh ra Tòa án thị xã Đồng Xoài, đòi quyền sử dụng 40/97 mét vuông đất của ông Chánh. Vợ chồng ông Dinh trưng ra Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất mà chính quyền địa phương cấp cho ông Huỳnh Thế Sang – chủ trước – chứng minh cho yêu cầu của họ.

Năm 2014, khi xử sơ thẩm vụ kiện này, Tòa án thị xã Đồng Xoài xác định, ông Chánh phải giao cho vợ chồng ông Sang 40 mét vuông đất mà vợ chồng ông Dinh đòi. Ông Chánh kháng cáo. Năm 2015, khi xử phúc thẩm vụ kiện này, Tòa án tỉnh Bình Phước tuyên y án sơ thẩm. Án phúc thẩm là chung thẩm. Vợ chồng ông Chánh hết cửa để kêu oan…

Ngày 26 tháng 7 năm 2015, ông Chánh sang nhà ông Dinh nói chuyện phải trái. Thất bại, ông chém vợ chồng ông Dinh bị thương rồi dùng con dao ấy tự sát… Dù ông Chánh dùng máu và mạng của chính mình để rửa oan và kêu oan nhưng vô ích. Chi cục Thi hành án dân sự của thị xã Đồng Xoài vẫn tổ chức cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Chánh để thực thi các bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Vợ ông Chánh kháng cự. Bà tuyên bố sẽ tự sát như chồng để bảo vệ tài sản của gia đình, bảo vệ tương lai của con cái. Bất bình, dân chúng địa phương dọa sẽ làm giặc nếu hệ thống công quyền tiếp tục giả mù, giả điếc, thực thi hai bản án mà hệ thống tư pháp đã đổi trắng thành đen ngay giữa thanh thiên, bạch nhật…

Chuyện cứ thế nhùng nhà, nhùng nhằng trong hai năm, tới tháng 9 năm 2017, chính quyền thị xã Đồng Xoài mới tổ chức ”thanh tra” về Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất mà chính quyền địa phương đã cấp cho ông Huỳnh Thế Sang năm 2010 để ông bán cho vợ chồng ông Dinh và là cơ sở để ông Dinh kiện vợ chồng ông Chánh giao đất.

Kiểm tra đủ loại giấy tờ, kể cả tài liệu lưu trữ, gặp gỡ - thu thập lời khai của các nhân chứng, trong đó có cả chủ đất (người bán đất cho ông Chánh và ông Sang), trưng cầu giám định chữ ký, Thanh tra xác định, 97 mét vuông đất mà trước giờ gia đình ông Chánh vẫn sử dụng đúng là của họ. Toàn bộ hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông Huỳnh Thế Sang đã lập là ngụy tạo, trái thực tế, chẳng hiểu sao hệ thống công quyền không thẩm tra mà thừa nhận ngay lập tức. Không có tờ giấy đó, không có vụ vợ chồng ông Dinh (mua đất của ông Sang), kiện vợ chồng ông Chánh đòi đất. Nếu Tòa án thị xã Đồng Xoài, Tòa án tỉnh Bình Phước thực thi đúng chức trách (triệu tập nhân chứng, nghe nhân chứng, trưng cầu giám định, phân xử một cách công tâm,…) ông Chánh không bị dồn tới chỗ phải lấy máu và lấy mạng mình để rửa oan và kêu oan.

Đáng ngạc nhiên là Thanh tra chỉ đề nghị hủy các tờ Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai, cuối tuần trước, tới lượt Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Xoài gửi văn bản đề nghị Tòa án Tối cao dùng thủ tục tái thẩm (thủ tục xét lại các bản án đã có hiệu lực) để hủy những bản án sai. Không thấy bất kỳ viên chức, cơ quan hữu trách nào đề cập tới điều tra, truy cứu trách nhiệm những cá nhân (tối thiểu cũng hàng chục) của nhiều cơ quan, cấp, ngành đã đẩy ông Chánh tới chỗ phải tự sát, vợ con ông vào thảm cảnh!

***

Tuần trước, ngoài vụ vừa kể, còn có vụ Thanh tra tỉnh Đắk Nông công bố kết luận việc giao đất ở huyện Tuy Đức cho Công ty Long Sơn (2). Theo kết luận ấy, chính quyền tỉnh Đắk Nông đã cho Công ty Long Sơn thuê 1.079 héc ta đất rừng từ 2008, hai năm sau (2010) Sở Tài nguyên – Môi trường mới hợp thức hóa quyết định ấy bằng hợp đồng cho thuê đất và năm sau nữa thì Công ty Long Sơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Giống như nhiều vùng khác ở Tây Nguyên, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông là túi chứa di dân tự do – những cá nhân lìa bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn, dắt díu nhau đi khai hoang, lập nghiệp ở những vùng đất mới với hi vọng có thể thoát khỏi khốn cùng. Ở Tây Nguyên, đất mới là những khu rừng nguyên sinh đã bị khai thác đến cạn kiệt rồi bỏ hoang… và di dân chính là những người “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để phục hóa.

Sau khi được thuê rồi được giao 1.079 héc ta “rừng”, chủ Công ty Long Sơn đã bán cả công ty lẫn quyền khai thác hàng ngàn héc ta đất cho gia đình ông Nghiêm Xuân Thiên Sửu. Kể từ đó, gia đình ông Sửu – chủ mới của Công ty Long Sơn bắt đầu tiến trình xua đuổi di dân tự do ra khỏi khu vực mà công ty toàn quyền… khai thác. Vườn, rẫy – cơ hội đổi đời của hàng trăm gia đình bị chặt phá, bị đốn hạ, nhà cửa bị giật sập. Sau vài thập niên dốc hết sức lực, vốn liếng vào việc khai hoang, định cư, hàng trăm gia đình đối diện với viễn cảnh vừa trắng tay, vừa vô gia cư… Họ bắt đầu tất tả ngược xuôi xin cứu xét.

Chỗ này, chỗ kia bắt đầu đặt vấn đề, khai phá – sử dụng công thổ để mưu tìm cơm no, áo ấm có thể là sai nhưng gạt bỏ thực tế khai thác - sử dụng công thổ cũng như tất cả những tình tiết có liên quan khác để cho phép Công ty Long Sơn phủi tay, không bồi thường, không hỗ trợ dường như không… ổn. Nếu cho thuê rừng nhằm phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tại sao không cho những gia đình di dân tự do thuê lại phần đất họ đã khai hoang mà lại dành quyền thuê cả thổ cư, vườn, rẫy của họ cho riêng Công ty Long Sơn?..

Hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương không đếm xỉa tới điều đó. Do vậy, Công ty Long Sơn liên tục điều động các loại xe chuyên dụng và “công nhân” dỡ bỏ nhà cửa, hủy diệt những vườn tiêu, vườn điều, vườn cà phê,… trên phần đất mà chính quyền tỉnh Đăk Nông đã giao. Trong quá trình “cưỡng chế - thu hồi đất”, “công nhân” của Công ty Long Sơn đã đánh đập, gây thương tích cho nhiều người dân ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức chỉ vì họ “dám” bảo vệ nhà cửa, vườn tược vốn là của họ.

Suốt tám năm, toàn bộ hệ thống công quyền từ xã đến tỉnh ở Đắc Nông án binh bất động trước tất cả các đợt “cưỡng chế - thu hồi đất” mà Công ty Long Sơn thực hiện, bất kể dân chúng xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, có người bị “công nhân” của Công ty Long Sơn dùng rựa vạt mất gần nửa hộp sọ, tuy may mắn không mất mạng nhưng sẽ sống với cái đầu bị móp ấy cho đến hết đời. Có phụ nữ bị trụy thai do “công nhân” của Công ty Long Sơn đạp vào bụng,…

Bất nhẫn, một số tờ báo bắt đầu lên tiếng. Đến năm 2015, chính quyền tỉnh Đắk Nông mới quyết định thu hồi 265/1.097 héc ta đã giao cho Công ty Long Sơn vì phần đất này vốn là nơi cư trú, vườn, rẫy của hàng trăm gia đình. Năm sau nữa (tháng 7 năm 2016), sau khi thị sát tại chỗ, ông Trương Hòa Bình, Phó Thủ tướng Viẹt Nam đã yêu cầu chính quyền tỉnh Đắk Nông ngăn chặn Công ty Long Sơn “cưỡng chế - thu hồi đất” để kiểm tra lại. Song, hệ thống công quyền không làm gì cả và Công ty Long Sơn vẫn tiếp tục tổ chức “cưỡng chế - thu hồi đất”...

Đó cũng là lý do dân chúng xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức quyết định tự cứu họ bằng cách tự vũ trang với súng tự chế. Sau khi bị 30 “công nhân” Công ty Long Sơn hành hung vì ngăn cản Công ty Long Sơn dỡ nhà, phá vườn của mình trong đợt “cưỡng chế - thu hồi đất” mà công ty này tiến hành vào ngày 23 tháng 10 năm 2016, ông Đặng Văn Hiến đã chạy về nhà lấy súng tự chế, bắn chỉ thiên để cảnh cáo, bởi “công nhân” Công ty Long Sơn vừa lao đến, vừa ném đá… ông Hiến có thêm sự hỗ trợ của hàng xóm chĩa thẳng súng vào đám đông bóp cò…

Chỉ đến khi có ba người chết, 13 người bị thương, hệ thống công quyền ở tỉnh Đắk Nông mới chuyển động. Tuy nhiên những chuyển động ban đầu chỉ nhắm tới chuyện trừng phạt Đặng Văn Hiến, Ninh Viết Bình, Hà Văn Trường vì “giết người”, Đoàn Văn Diện vì “che giấu tội phạm”… Một tuần sau thảm án, ông Nghiêm Xuân Thiên Sửu, chủ Công ty Long Sơn còn dọa sẽ kiện nhiều cơ quan truyền thông chính thức ra tòa vì thông tin sai sự thật, vừa chỉ dẫn báo chí “lên huyện, lên tỉnh” để tìm… “sự thật”!

Mũi dùi công lý chỉ chĩa vào Công ty Long Sơn khi công chúng sôi lên vì giận. Ông Nghiêm Xuân Thiên Sửu (Phó Giám đốc Công ty Long Sơn) và ông Phạm Công Thiện (Trưởng Ban Quản lý nhân sự của Công ty Long Sơn) bị khởi tố vì “hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” và phải hầu tòa cùng với ông Hiến và ba người hàng xóm. Ở phiên xử sơ thẩm, ông Sửu bị phát sáu năm tù, ông Thiện bị phạt bốn năm tù. Tòa án tỉnh Đắk Nông tuyên tử hình ông Hiến, phạt ông Bình 20 năm tù, ông Trường 12 năm tù, ông Diện chín tháng tù.

Dư luận dậy lên thành bão. Đến khi xử phúc thẩm, Tòa án Tối cao giảm cho ông Bình hai năm tù, giảm cho ông Trường ba năm tù, chuyển hình phạt 9 tháng tù giam của ông Diện thành án treo. Ông Sửu, ông Thiện cũng được giảm mỗi người hai năm tù nhưng cương quyết giữ hình phạt tử hình dành cho ông Hiến.

Bây giờ, với kết luận vừa công bố, Thanh tra tỉnh Đắk Nông chính thức thừa nhận, chuyện giao 1.097 héc ta đất rừng cho Công ty Long Sơn là sai pháp luật vì công ty này không đủ khả năng tài chính, không đủ cả nhân lực lẫn phương tiện, các giải pháp đầu tư mà công ty này trình bày khi xin nhận đất không khả thi. Trong 1.097 héc ta đất rừng được giao cho Công ty Long Sơn năm 2008, có 183 héc ta thật sự là rừng nhưng đã bị Công ty Long Sơn đốn sạch mà đến giờ hệ thống công quyền, hệ thống tư pháp vẫn chưa làm gì.

Chuyện để Công ty Long Sơn tổ chức các đợt “cưỡng chế - thu hồi đất”, không bồi thường cũng chính thức được xác định là sai. Thậm chí các đợt “cưỡng chế - thu hồi đất”, trong đó đợt cuối cùng dẫn tới thảm án ngày 23 tháng 10 năm 2016 còn khiến người ta kinh ngạc vì rõ ràng hệ thống công quyền đã làm ngơ để Công ty Long Sơn “cưỡng chế - thu hồi đất” trên phần đất mà chính quyền tỉnh Đắk Nông đã quyết định thu lại từ năm 2015, không cho Công ty Long Sơn thuê nữa nhằm “giải độc dư luận”…

Nếu không nổ súng, gây ra thảm án ngày 23 tháng 10 năm 2016, ông Hiến đã trắng tay (mất cả nhà lẫn vườn tược như một số nạn nhân trong các vụ “cưỡng chế - thu hồi đất” trước đó của Công ty Long Sơn). Giống như ông Chánh, ông Hiến không liều mạng thì những tiếng kêu oan của ông và hàng trăm gia đình ở xã Quảng Đức, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông chẳng có ai nghe.

Một số luật sư và những người am tường luât pháp từng thắc mắc, với những tình tiết liên quan đến thảm án ngày 23 tháng 10 năm 2016 ở xã Quảng Đức vốn đã được bạch hóa từ lâu, tại sao hệ thống tư pháp (công an, Viện Kiểm sát, Tòa án) từ địa phương tới trung ương không cải sửa tội danh của ông Hiến từ “giết người” thành “giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh” (hình phạt tối đa là bảy năm tù)?

Yếu tố chính để xác định một cá nhân “giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh” là tinh thần đương sự bị kích động mạnh vì “hành vi trái pháp luật”. Xác định ông Hiến “giết người” – phạt tử hình một thường dân - đơn giản hơn điều tra, truy cứu trách nhiệm “hành vi trái pháp luật” của hàng loạt viên chức các cấp, với tình tiết tăng năng là hậu quả của thảm án ngày 23 tháng 10 năm 2016. Chưa kể tuyên bố tử hình ông Hiến còn có tác dụng răn đe. Ở Việt Nam, đâu chỉ có Công ty Long Sơn, cũng chẳng phải chỉ có chính quyền tỉnh Đắc Nông giao đất, giao rừng theo kiểu như vậy.

Khi công bố bản án phúc thẩm, các thẩm phán của Tòa án Tối cao từng nhắc đi, nhắc lại nhiều lần với ông Hiến rằng, ông nên xin Chủ tịch Nhà nước tha tội chết. Đó cũng là lý do rất khó có khả năng Tòa án Tối cao hoặc Viện Kiểm sát Tối cao kháng nghị tái thẩm, hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm mà hệ thống tòa án đã tuyên với ông Hiến, xét xử lại vụ án theo hướng Đặng Văn Hiến và các đồng phạm không phạm tội “giết người” mà là “giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh”, dù như thế mới thật sự là “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”. Để Chủ tịch Nhà nước tha tội chết cho Đặng Văn Hiến sẽ có lợi hơn trong việc “ổn định chính tri”, chưa kể đó còn là cơ hội để lãnh đạo Đảng, Nhà nước quảng bá sự “khoan hồng, nhân đạo”!..

***

Đã hơn hai tháng tính từ ngày ông Nguyễn Hồng Điệp, Trưởng Ban Tiếp dân của các cơ quan trung ương xin lỗi bà Lê Thị Hồng Phượng và hứa sẽ đề nghị Thủ tướng Việt Nam “giải quyết dứt điểm” chuyện oan ức của bà nhưng bà Phượng vẫn vô gia cư và vẫn tiếp tục kêu oan (3).

Bà Phượng là con dâu bà Đê. Bà Đê là vợ ông Tài – tham gia cách mạng rồi mất tích ở Cái Bè. Bà Đê là chủ lô đất 16.000 mét vuông ở đường Kinh Dương Vương, Bình Trị Đông (trước thuộc huyện Bình Chánh, nay thuộc quận Bình Tân), có “bằng khoán điền thổ” do Ty Điền địa Gia Định Việt Nam Cộng hòa cấp. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tuy là “gia đình có công với cách mạng” nhưng bà Đê không giữ được lô đất đó vì chính quyền huyện Bình Chánh “mượn”, một phần giao cho Bến xe miền Tây, một phần cho khoảng 20 gia đình dựng nhà. Người sử dụng phần lớn diện tích (6.000/16.000 mét vuông) mà chính quyền huyện Bình Chánh “mượn” là ông Nguyễn Văn Nhờ - lãnh đạo Công an huyện Bình Chánh, sau đó chuyển sang phụ trách Xa cảng miền Tây.

Bà Đê trở thành vô gia cư từ tháng 4 năm 1975 và đi tới đi lui xin lại đất của mình. 15 năm sau (1990), gia đình bà Đê dành dụm đủ tiền, mua một căn nhà nhỏ dựng trên đất mà chính quyền huyện Bình Chánh “mượn” của họ. Tưởng là sẽ có chỗ chui ra chui vào để tiếp tục hành trình xin lại đất nhưng ông Nhờ điều động người đến giựt sập. Gia đình bà Đê lại ra đường, ăn nhờ ở đậu, làm mướn để tiếp tục sự nghiệp xin lại đất...

Bởi có khiếu nại của bà Đê về quyền sử dụng đất, những gia đình dựng nhà trên lô đất mà chính quyền huyện Bình Chánh “mượn” của bà không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, trừ… ông Nhờ và các con (đủ loại sĩ quan của ngành công an, cán bộ Đảng đủ cấp). Ngoài chuyện hợp thức hóa đất, nhà, đại gia đình này còn được bồi thường hàng chục tỉ đồng khi chính quyền địa phương mở rộng các con đường chạy ngang phần đất mà họ chiếm giữ. Trong hàng chục căn nhà mà đại gia đình ông Nhờ sở hữu, một số được dùng để ở, một số để cho thuê, thu hàng chục tỉ/năm.

Sau 28 năm khiếu nại xin lại đất, bà Đê chết như một người vô gia cư. Cũng tới lúc đó, khiếu nại của bà mới được chính phủ để ý, song vợ chồng con trai bà vẫn chưa thể nhận lại tài sản của họ. Từ 2003 đến nay là 15 năm, tính ra có năm lần hết Thủ tướng tới Phó Thủ tướng Việt Nam yêu cầu chính quyền TP.HCM xem xét – giải quyết khiếu nại của gia đình bà Đê, thậm chí năm 2017, chính phủ Việt Nam lập hẳn một đoàn thanh tra để xác định đúng - sai, rồi kết luận khiếu nại của bà Đê chính xác. Tuy vợ chồng bà Phượng đã nêu rất rõ, họ đồng ý tặng đất cho các gia đình đã xây nhà trên lô đất 16.000 mét vuông của bà Đê, kể cả tặng đất cho đại gia đình ông Nhờ. Họ chỉ yêu cầu hoàn trả phần đất mà Công ty Bến xe miền Tây đang dùng làm bãi đậu xe và phần đất mà đại gia đình ông Nhờ cho người khác thuê. Đối với khoản bồi thường khi mở đường mà đại gia đình ông Nhờ tùy tiện nhận, họ yêu cầu đại gia đình ông Nhờ chuyển vào quỹ hỗ trợ học sinh nghèo. Chỉ có thế mà vẫn chưa xong vì chính quyền TP.HCM không chịu làm gì cả (4). Tháng 4 vừa rồi, con trai bà Đê cũng đã chết như một người vô gia cư, chỉ còn bà Phương! Dường như nước mắt không tạo ra đủ năng lượng để hệ thống công quyền chuyển động!


Trân Văn
Blog VOA

Brett Kavanaugh và tối cao pháp viện


Có lẽ ít có lần đề cử thẩm phán vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ nào mang tính căng thẳng và gây cấn như đối với thẩm phán Brett Kavanaugh kỳ này. Có nhiều nguyên nhân, nhưng phần lớn nằm trong bối cảnh chính trị của Hoa Kỳ hơn là chính cá nhân ông Kavanaugh.

Ứng viên tối cao pháp viện, Brett Kavanaugh và khung hình là bản Hiến Pháp Mỹ.

Trước hết cần nói về vai trò ngày càng quan trọng của ngành tư pháp.

Giáo sư Kermit Hall chia sẻ rằng triết gia người Pháp Alexis de Tocqueville, trong chuyến tham quan Hoa Kỳ đầu thế kỷ 19, đã có nhận định vào thời điểm đó rằng “Tôi không rõ có quốc gia nào trên thế giới này cho đến nay tổ chức quyền lực tư pháp trong cung cách giống như người Mỹ không… Một quyền lực tư pháp mang tính áp đặt hơn lại không bao giờ được cấu tạo bởi người dân” [1]. Chỉ có vài pháp viện khác trên thế giới có quyền lực về bề rộng và về hoạt động giống như Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Hall cho rằng Tối cao Pháp viện là sản phẩm của Hiến Pháp Hoa Kỳ, và là một trong các định chế mới ấn tượng nhất, nhưng đồng thời ít được tranh luận nhất, được hình thành từ Hội nghị Philadelphia năm 1787. Trong các nỗi quan tâm của các phái đoàn đến Philadelphia lúc đó có ý tưởng pháp quyền (the rule of law) bị đe dọa nghiêm trọng, do đó các nhà định hình Hiến pháp ban đầu muốn xây dựng một ngành tư pháp mạnh mẽ để bảo toàn các chuẩn mực mới của nền pháp luật toàn quốc và để mang lại một số hạn chế đối với các mong muốn phổ biến quá đà.

Tuy quan niệm và mong muốn xây dựng ngành tư pháp như thế, mãi cho đến năm 1935 Tối cao Pháp viện mới có tòa nhà riêng của mình. Tạp chí Economist biện luận rằng ngày hôm nay Tối cao Pháp viện chiếm vị thế trọng tâm nhưng ngày càng không thể đứng vững được (untenable) trong đời sống người Mỹ [2].

Nó là tâm điểm vì phần lớn đến từ sự bế tắc. Khi Quốc hội (tức Lập pháp) không thể thông qua các dự luật đơn giản, thuần tuý mang tính thương lượng chính trị với nhau, thì quyền lực của chính nó tràn sang Hành pháp và Tư pháp. Các vấn đề chính trị như phá thai hay hôn nhân đồng tính lại trở thành các vấn đề mang tính pháp lý, được dàn xếp bởi chín thẩm phán, trong đó không một ai được dân bầu lên.

Nó không thể đứng vững được là do vị thế thiên vị ngày càng gia tăng của pháp viện. Không phải lúc nào nó cũng như thế. Trước đây các tổng thống thuộc đảng Cộng hoà đã bổ nhiệm ba thẩm phán cấp tiến nổi tiếng nhất của thế kỷ 20, gồm Earl Warren, William Brennan và Harry Blackmun, và kể cả Anthony Kennedy, mặc dầu ông Kennedy, người mới vừa quyết định về hưu, được xem là người giữ phiếu quyết định nhưng xoay chiều khi cần (swing vote). Trong khi đó, bốn thẩm phán có lập trường bảo thủ hiện nay đều do các tổng thống của Đảng Cộng hòa bổ nhiệm, và bốn thẩm phán cấp tiến đều do các tổng thống của Đảng Dân chủ bổ nhiệm. Tiến trình đề cử thì ngày càng trở nên độc hại. Cộng hòa đổ lỗi cho thủ thuật của Dân chủ qua cuộc điều trần của Robert Bork, một ứng viên mà tổng thống Ronald Reagan đề cử. Dân chủ thì đổ lỗi cho Cộng hòa qua sự kiện cựu tổng thống Barack Obama đề cử thẩm phán Merrick Garland vào năm 2016. Cộng hòa lúc đó chiếm đa số ở thượng viện, do đó có quyền quyết định khi nào diễn ra cuộc điều trần. Họ đã ngâm tôm cuộc điều trần này bởi vì cuối năm 2016 diễn ra bầu cử lại một phần ba thượng viện, toàn hạ viện và bầu cử tổng thống. Ứng cử viên Cộng hoà Donald Trump, trong một cuộc vận động bầu cử lúc đó, đã phát biểu: “Quý vị phải bầu cho tôi… Quý vị biết tại sao không? Thẩm phán Tối cao Pháp viện. Không có chọn lựa nào khác.” [3]. Dân chủ mất cơ hội chọn thẩm phán theo quan điểm của mình.

Hiện nay Cộng hòa chiếm tỷ lệ 51 – 49 ở thượng viện, trong đó 47 thuộc Dân chủ, và hai thượng nghị sĩ độc lập. Đảng nào có hơn 50 ghế thượng viện là coi như nắm phần quyết định việc bổ nhiệm thẩm phán vào Tối cao Pháp viện. Cũng vì thế nên Trump đã thành công trong việc đề cử thẩm phán Neil Gorsuch vào Tối cao Pháp viện năm ngoái. Việc Trump đề cử thẩm phán Brett Kavanaugh, người đã và đang được điều trần tại Thượng viện Hoa Kỳ tuần qua, có lẽ sẽ không gặp khó khăn nào đáng kể mặc dầu vào giờ phút cuối, một người phụ nữ ẩn danh đã cáo buộc ông Kavanaugh từng xâm phạm tình dục đối với bà khi còn là học sinh [4]. Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Dianne Feinstein đã đưa vấn đề này ra bàn cãi vào thứ Năm 13 tháng 9 vì cho rằng những lời cáo buộc này rất nghiêm trọng về tính cách của thẩm phán Kavanaugh. Vì các tranh chấp và thủ thuật chơi nhau giữa hai đảng, như trình bày trên, Đảng Dân chủ sẽ không dễ dàng thông qua cuộc điều trần này, hay bỏ qua cơ hội đặt vấn đề khi có thêm các thông tin tiêu cực về Kavanaugh [5]. Tuy nhiên Carl Hulse thuộc báo New York Times nhận định rằng trước đây hai thẩm phán Clarence Thomas và Neil Gorsuch đã phải đối diện với bao điều cáo buộc về cung cách hành xử của họ trong giai đoạn cuối của cuộc điều trần, nhưng họ cuối cùng cũng được vào Tối cao Pháp viện; do đó ngoại trừ các cáo buộc này chồng chất lên, Kavanaugh cũng sẽ ngồi vào ghế Tối cao Pháp viện thôi [6].

Thế nhưng vào lúc viết bài này thì vấn đề trở nên rắc rối hơn cho ông Kavanaugh. Người phụ nữ ẩn danh đó quyết định công khai danh tánh của mình trên báo Washington Post, kể chi tiết về vụ hành hung đó khoảng năm 1982, lúc bà chừng 15 tuổi, ông Kavanaugh chừng 17 tuổi. Bà tên là Christine Blasey Ford, 51 tuổi, hiện là một giáo sư nghiên cứu và giảng dạy tâm lý tại trường đại học Palo Alto, tiểu bang California [7]. Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Jeff Flake thuộc tiểu bang Arizona cho biết ông chưa sẵn sàng bỏ phiếu “Yes” cho đến khi ông biết thêm về vụ bà Ford [8]. Theo dự trù thì Đảng Cộng hòa muốn bỏ phiếu thông qua đề cử này vào thứ Năm 20 tháng 9, trong khi Đảng Dân chủ muốn hoãn lại và muốn có thêm thời gian.

Như đã trình bày trên, tiến trình tuyển chọn thẩm phán, từ đề cử bởi tổng thống đương nhiệm đến điều trần tại thượng viện, mang đầy tính đảng phái, thiên vị, do đó hoàn toàn không tốt cho ngành tư pháp và cho toàn nước Mỹ. Theo tạp chí Economist thì nó có khả năng làm què quặt ngành tư pháp vì hai cách. Một, nếu chỉ khi nào một tổng thống có đa số ở thượng viện mới có thể bổ nhiệm thành công một ghế trống ở Tối cao Pháp viện thì rất có khả năng là phần lớn thời gian tòa án không thể hoạt động với toàn lực của mình. Hai, tính chính nghĩa của tòa án phụ thuộc vào uy tín của nó như là một trọng tài trung lập khả tín. Thẩm phán Kavanaugh, trong cuộc điều trần tuần qua, đã khẳng định lập trường rằng ông sẽ làm việc cùng với tám thẩm phán còn lại trong Tối cao Pháp viện như là một thành viên của đội (team player), và cương quyết dựa vào hiến pháp và pháp luật của Hoa Kỳ trong mọi quyết định của mình. Tuy thế, ông cũng khó thuyết phục phía Dân chủ hay những người khác rằng quyết định của ông sẽ hoàn toàn khách quan, không bị ảnh hưởng về các quan điểm có vẻ bảo thủ của mình.

Vì sự khác biệt quá sâu sắc trong xã hội Mỹ, và bao nhiêu quốc gia khác, về các vấn đề gây tranh cãi trong thời gian qua, từ các giá trị tôn giáo như phá thai đến các vấn đề chính trị bản sắc (identity politics) như hôn nhân đồng tính, cho nên nếu trước đây Tối cao Pháp viện phần lớn quyết định theo tuyệt đối, nhất trí với nhau, về nhiều vấn đề thì ngày nay không còn như thế nữa. Với bốn thẩm phán bảo thủ, bốn thẩm phán cấp tiến, thì Kavanaugh, nếu được thượng viện thông qua, sẽ góp phần làm nghiên cán cân về phía bảo thủ. Ngoài ra, việc tổng thống Trump đề cử thẩm phán Kavanaugh cũng chính nó gây nhiều tranh cãi. Trump đang bị cho là có âm mưu vi phạm luật liên bang, và những người chung quanh Trump trong chiến dịch tranh cử năm 2016 đang được điều tra có liên hệ như thế nào với Nga. Hiện giờ thì chưa rõ nhưng rất có thể Tối cao Pháp viện sẽ phải quyết định Trump có phải bị bắt buộc làm chứng trong cuộc điều tra này, hoặc có phải bị truy tố, và có được quyền tha thứ cho mình không v.v… Quan điểm của Kavanaugh liên quan đến các vấn đề này mang tính quyết định về cách tòa án quy định quyền hạn của tổng thống.

Khác với Tối cao Pháp viện Úc, ràng buộc trong hiến pháp rằng các thẩm phán phải về hưu ở tuổi 70, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ không giới hạn tuổi tác. Thẩm phán Kavanaugh hiện nay chỉ mới có 53 tuổi. Nếu được thượng viện thông qua, và nếu có sức khỏe, ông có thể tại nhiệm trong hai ba thập niên tới, và sẽ ảnh hưởng lớn lao lên nền tư pháp tới đây. Đảng Dân chủ không hề yên tâm về điều này, không chỉ vì khác quan điểm mà còn vì khá bực mình với Đảng Cộng hòa vì lẽ ra một ghế của Tối cao Pháp viện thuộc về thẩm phán Garland.

Tư pháp trong một nền dân chủ đích thực phải thực sự độc lập, vô tư/công bình (không bị chính trị hóa) và khả tín mới có thể hoàn thành sứ mạng công lý lớn lao của mình. Nó phải được sự tin tưởng cao cả thì mới phục vụ tối hảo cho mọi công dân dưới hiến pháp và pháp luật đó. Tối cao Pháp viện có quyền quyết định nếu Lệnh Hành pháp (Executive Order) hay các bộ luật từ Lập pháp có hợp hiến không. Nghĩa là trách nhiệm và quyền hạn rất lớn và rất nặng về, trên cả hai ngành kia. Vì thế việc chính trị hóa ngành từ pháp của Hoa Kỳ trong thời gian qua, qua việc các tổng thống chỉ đề cử người có cùng quan điểm chính trị với đảng, đã làm giảm đi khả tín và tính lưỡng đảng (phi chính trị) của nền tư pháp. Như thế nó có thể làm giảm đi niềm tin của người dân Mỹ về nền công lý của quốc gia. Điều đó đã làm cho nhiều người chuyên môn quan tâm đệ trình một số cải tổ triệt để hoặc ôn hòa hơn. Giới hạn nhiệm kỳ mỗi thẩm phán trong vòng 18 năm thay vì suốt đời là một đề nghị. Hoặc thay phiên mỗi 9 thẩm phán trong số 180 thẩm phán liên bang phục vụ trong vòng hai tuần, nhưng điều này sẽ gây nhiều khó khăn và cản trở về mặt hành chánh. Một cách khác nữa là số thẩm phán gia tăng lên 15 người, bởi trong hiến pháp không quy định bao nhiêu, số 9 hiện nay chỉ là theo thông lệ, kể từ năm 1869. 5 được Dân chủ đề chọn, 5 từ Cộng hòa, và 5 còn lại do các thẩm phán bầu chọn nhau. Dù kết quả ra sao đi nữa, cải tổ sâu sắc ngành Tư pháp hiện nay là điều hợp lý để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi sự năng động và thách thức không ngừng trong đời sống chính trị của người Mỹ hiện nay và tương lai.

Phạm Phú Khải
Úc Châu, 17/09/2018
Blog VOA
Tài liệu tham khảo:

1. Kermit L. Hall, “The Law of the Land: The History of the Supreme Court”, Course Guide, Utah State University, Recorded Books, 2003; trang 7.

2. “America’s highest court needs term limits”, The Economist, Leaders, 15 September 2018.

3. “How America’s Supreme Court became so politicised”, The Economist, Briefing, 15 September 2018.

4. “Brett Kavanaugh denies sexual misconduct in high school”, US & Canada, BBC, 14 September 2018.

5. “Ðảng Dân chủ quyết chận đề cử của TT Trump vào Tối cao Pháp viện”, VOA, 4 September 2018.

6. Carl Hulse, “New Kavanaugh Disclosure Shows Little Sign of Impeding His Nomination”, The New York Times, 15 September 2018.

7. Emma Brown, “California professor, writer of confidential Brett Kavanaugh letter, speaks out about her allegation of sexual assault”, The Washington Post, 16 September 2018.

8. Sheryl Gay Stolberg, “Brett Kavanaugh’s Confirmation in Turmoil as Accuser Comes Forward”, The New York Times, 16 September 2018.

Không chỉ ở Biển Đông mới có tàu cá tông nhau


Vài chục chiếc thuyền nhỏ vây quanh mấy chiếc thuyền đánh cá to. Chúng lao vào nhau và rồi ‘củ đậu’ bay, pháo sáng bay, khói và mùi thuốc súng lan đầy mặt biển. Chỉ có điều đây không phải là Biển Đông mà ở vùng Vịnh Seine, ngay ngoài lãnh hải của Pháp.

Một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu vỏ thép của Trung Quốc đâm thẳng vào khi đang đánh bắt trên vùng biển của Việt Nam. (ảnh chụp từ TuoiTre)

Hơn 30 tàu nhỏ của Pháp rượt đuổi năm tàu lớn của Anh tới vùng này đánh bắt sò điệp hồi cuối tháng Tám và từ đó tới nay hai bên vẫn đàm phán bất thành nhằm đi tới thoả thuận giải toả căng thẳng. Một dân biểu Anh hôm 13/9 thậm chí còn đòi Hải quân Anh phải hộ tống tàu đánh cá ra khơi. Nhưng chính quyền Anh có vẻ không muốn căng thẳng tăng thêm và nói rằng Pháp chịu trách nhiệm cảnh giới vùng biển đó và họ phải đảm bảo không có xung đột giữa ngư dân hai bên.

Trong số tàu của Anh có liên quan tới cuộc va chạm trên biển, ba tàu từ cảng Peterhead ở tận Scotland và họ phải đi hai ngày rưỡi mới tới vùng biển giáp Pháp. Luật Pháp chỉ cho đánh bắt sò điệp trong vùng biển này từ 1/10 tới 15/5 để sò điệp có thời gian sinh sôi nảy nở. Nhưng luật này chỉ áp dụng với các tàu thuyền của Pháp. Tàu của Anh và các nước EU khác không phải tuân theo và có thể đánh bắt quanh năm. Các năm trước ngư dân Anh và Pháp thường đi tới thoả thuận mà theo đó chỉ có tàu dài dưới 15 mét của Anh mới được đánh bắt tại Vịnh Seine trong khoảng thời gian tàu Pháp bị cấm. Họ sợ nếu tàu lớn của Anh được vào đánh quanh năm thì tới khi tàu Pháp được phép đánh bắt sẽ chẳng còn mấy sò điệp. Tuy nhiên năm nay hai bên không đạt được thoả thuận và các đàm phán từ sau vụ tàu đâm nhau tới giờ vẫn chưa đi đến đâu.

Trong quá trình đàm phán, ngư dân Anh đòi được bồi thường cho khoản thu nhập bị mất từ việc không tới vùng biển giáp Pháp đánh bắt sò điệp. Nhưng phía Pháp nói họ đòi bồi thường quá nhiều và không linh hoạt trong đàm phán, theo báo Financial Times. Báo này cũng nói Hải quân Pháp sẵn sàng tới vùng này để bảo vệ trật tự nếu vẫn còn nguy cơ xung đột giữa tàu cá đôi bên.

Cách phản ứng của hai bên trong vụ này cho thấy họ có mối quan hệ khá bình đẳng và thượng tôn pháp luật. Pháp cấm tàu của mình đánh cá nhưng cũng không ép buộc các tàu nước ngoài phải thực hiện lệnh cấm này. Khi có xung đột, hai bên cũng cố gắng giải quyết theo cách văn minh nhất có thể. Những người đại diện cho người dân có lên tiếng đòi sự bảo vệ của hải quân nhưng chính quyền Anh cho rằng không cần dùng tới những biện pháp leo thang như vậy.

Trong khi đó mới đây tàu chiến Anh chỉ đi ngang vùng biển quốc tế gần Trung Quốc để tới thăm thành phố Hồ Chí Minh đã khiến Trung Quốc giận dữ và lên tiếng phản đối. Hồi tháng 7, Bắc Kinh cũng đã lên tiếng khi Anh tuyên bố sẽ triển hai hai hàng không mẫu hạm tới Biển Đông nhằm đảm bảo tự do hàng hải. Trung Quốc thậm chí còn doạ Anh rằng hiệp định thương mại song phương giữa Anh và Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng nếu Anh cứ giữ cách hành xử như hiện nay ở Biển Đông.

Còn đối với Việt Nam, đương nhiên Trung Quốc không coi Hà Nội ra gì. Hoàng Sa mà Việt Nam đòi chủ quyền nay hoàn toàn do Trung Quốc kiểm soát và ngư dân Việt Nam ra đánh cá bị đối xử hết sức tồi tệ, kể cả khi họ đánh cá trên vùng biển quốc tế. Đối với Bắc Kinh, họ mạnh tới đâu biên giới biển của họ ở đó và chẳng có vùng biển nào là vùng biển quốc tế quanh Hoàng Sa cả. Ít nhất là điều này đúng với các tàu thuyền của Việt Nam. Và lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc đưa ra hàng năm không chỉ cho tàu Trung Quốc mà cho mọi tàu thuyền đánh cá trên Biển Đông. Họ chẳng thèm có thoả thuận bồi thường thiệt hại hay tàu nhỏ, tàu to gì hết. Đó là kiểu đối xử cá lớn nuốt cá bé mà thế giới văn minh luôn cố để điều này không xảy ra. Chỉ có điều trong khi Việt Nam muốn Trung Quốc cư xử văn minh và thượng tôn pháp luật, Hà Nội đôi khi lại cũng chẳng làm được điều này với công dân của chính mình. Cho tới khi chính nhà nước Việt Nam còn chưa hành xử văn minh thì họ chỉ có thể thân được với Trung Quốc theo kiểu răng môi mà nếu răng có cắn thì môi cũng chỉ ngậm đắng nuốt cay mà chịu trận.


Nguyễn Hùng
Blog VOA
 
website statistics
Top ↑ Copyright © 2011. Việt Mỹ News - All Rights Reserved
Back To Top ↑