VANEWS
Tin Mới Cập Nhật

Obama, Nguyễn Du, Lý Thường Kiệt

Đăng bởi BTV VANEWS vào Thứ Tư, ngày 25 tháng 5 năm 2016 | 25.5.16

Khi nhấn mạnh về những giá trị lịch sử, Tổng thống Obama đã trích lời Tướng Lý Thường Kiệt rằng: "Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận ở sách trời"

Sau khi ông Obama tuyên bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh tỏ ý hoan nghênh, nói, “Trung Quốc cũng muốn Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí!” Sau vụ tàn sát ở Thiên An Môn năm 1989, các nước Tây đã ngưng bán bom đạn cho Trung Cộng.

Nhưng các nhà bình luận bên Tàu không nói “ngoại giao” như vậy. Tân Hoa Xã đe rằng không nên kết thân với nhau để “đe dọa và làm thiệt hại quyền lợi chiến lược của một nước thứ ba!” Ai cũng hiểu họ nói nước thứ ba nào. Giáo Sư Nghê Nhạc Hùng, (Ni Lexiong), một chuyên gia về hàng hải Ðại Học Thượng Hải, nói rõ hơn, rằng quyết Washington và Hà Nội đã lập một “liên minh gần như quân sự, nhắm vào Trung Quốc.”

Ngày hôm sau, chắc quan chức Trung Cộng còn nổi giận hơn, khi ông Obama nói với dân Hà Nội: “Trong lịch sử, nhiều lần các bạn không được tự quyết định số phận mình.” (Chúng tôi biết: Một ngàn năm không quyết định được số phận mình). Ông ta nhắc: “Người Việt Nam có bài thơ: Sông núi nước Nam vua Nam ở - Rành rành định phận tại sách trời.” Người Việt Nam nào nghe một ông tổng thống Mỹ nhắc tới câu thơ của Lý Thường Kiệt, thế kỷ thứ 11, mà không muốn đứng dậy, máu sôi lên? Ðến lúc ông Obama nhắc đến “trăm năm,” đến “của tin” thì chắc các cụ bà vẫn thuộc lòng thơ Nguyễn Du có thể rớt nước mắt; các cụ sẽ ngân nga ngâm Kiều: “Rằng trăm năm cũng từ đây, của tin gọi một chút này làm ghi!”

Ai dạy cho ông tổng thống Mỹ câu “Nam quốc san hà Nam đế cư - Tiệt nhiên định phận tại thiên thư?” Ai cho ông biết bài “Nối vòng tay lớn?” Ai chỉ cho ông dẫn lời Thiền sư Thích Nhất Hạnh? Ai biết mà biết nêu ra hai câu Truyện Kiều? Có sử gia Mỹ nào đã được tham khảo ý kiến khi họ soạn diễn văn? Hay tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội đã đi nghe ngóng các trong cuộc biểu tình, đã hỏi thăm các ông Nguyễn Huệ Chi và Nguyễn Quang A? Hay là Nguyễn Văn Hải, Ðiếu Cầy, mới mách nước khi được Tòa Bạch Ốc mời vào hỏi ý kiến trước khi ông khởi hành?

Người Việt ở Mỹ chắc phải lắc đầu: Mình biết cậu Obama này khôn lắm, hùng biện, nói giỏi lắm. Nhưng cũng không ngờ cậu ấy lanh đến thế! Ðặt chân trên đất Thăng Long mà nhắc đến câu “thơ thần” trên sông Như Nguyệt, xác định: Núi sông nước Nam thuộc chủ quyền của người nước Nam! Cậu Obama này đã không “lú” mà lại được rất nhiều “chú khôn” hiến kế!

Sau khi nhắc dân tộc Việt ôn lại lời dạy của Lý Thường Kiệt, ông Obama còn giải thích rõ hơn bằng một nguyên tắc, cả thế giới ngày nay đều công nhận: “Nguyên tắc là các nước nhỏ hay lớn đều phải được tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ, nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ!”

Những lời lẽ nhắn nhủ Bắc Kinh này còn “nặng ký” hơn cả lời tuyên bố chấp nhận bán thêm vũ khí. Quyết định bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí chắc chắn đã được chọn nhiều tháng trước khi ông tổng thống Mỹ lên đường, không phải vì Việt Cộng mới trả tự do cho cha Nguyễn Văn Lý. Họ không nói trước, để mọi người hồi hộp chờ đợi, và để khi nói ra giữa Hà Nội thì “ấn tượng” mạnh hơn. Trước hết, là một tín hiệu gửi giới lãnh đạo ở Bắc Kinh.

Obama còn ràng buộc việc bán vũ khí sát thương với tình trạng nhân quyền. Lối nói dè chừng này là một trò “mèo vờn chuột,” vờn cả Việt Cộng lẫn Trung Cộng. Bao giờ bán, bán những vũ khí nào, bán số lượng bao nhiêu, sẽ được tính toán tùy theo hành vi của Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc.

Ðối với Việt Cộng: Bỏ lệnh cấm bán vũ khí, nhưng bao giờ bán, bán cái gì, còn tùy anh, anh có chịu nới lỏng gông cùm cho dân Việt được sống làm người hay không?

Ðối với Trung Cộng: Nếu anh bớt hung hăng, Mỹ sẽ chỉ bán mấy thứ vũ khi nhẹ, chỉ phòng thủ. Nếu anh hăm dọa láng giềng trâng tráo quá, sỗ sàng qua, sẽ bán thứ nặng, bán nhiều hơn. Trong trò vờn nhau giữa con ó Mỹ và con rồng Trung Cộng trong vùng Biển Ðông, từ bây giờ Mỹ sẽ có một khí cụ mới để tăng hay giảm nhiệt độ, tùy hành vi của đối thủ. Lâu nay việc Mỹ bán máy bay, hỏa tiễn cho Nhật Bản, Ðài Loan, Nam Hàn và Phi Luật Tân cũng vẫn diễn trò này. Ông Obama còn nói, “Việt Nam mua sắm vũ khí bảo vệ Tổ quốc.” Tại sao lo bảo vệ Tổ quốc trong lúc này, ai cũng biết!

Barack Obama đã phóng một tín hiệu mới cho Tập Cận Bình. Ðồng thời, giúp cho các doanh nghiệp Mỹ tuyển mộ thêm hàng chục ngàn công nhân trong mấy năm tới. Một tin mừng trong lúc dân Mỹ sắp đi bầu! Cổ phiếu công ty Boeing đã tăng 0.68% trong ngày công bố sắp bán 100 máy bay 737 cho Vietjet, giá hơn 11 tỷ đô la, cộng thêm các hợp đồng bảo trì, bán phụ tùng thay thế, vân vân, trong tương lai. Công ty Pratt & Whitney của Mỹ cũng bán được 135 đầu máy phản lực để gắn trên những phi cơ Airbus được đặt hàng năm ngoái, thâu hơn ba tỷ nữa. Mỹ bán được máy bay còn Việt Nam sẽ bán được giầy dép, quần áo nhiều hơn, khi thỏa ước TPP được thi hành.

TPP chính là “của tin gọi một chút này làm ghi” mà ông Obama đem tới. Cả nước Việt Nam đang chờ TPP. Nhất là các thanh niên đang lo không có việc làm. Sau khi TPP được thi hành, năm 2030 kinh tế Việt Nam sẽ gia tăng mỗi năm 10%. Không những giúp Việt Nam phát triển kinh tế, TPP còn là một đòn bẩy để nâng Việt Nam lên thoát khỏi lệ thuộc kinh tế Trung Cộng.

Nhưng TPP cũng sẽ thành một tác nhân có thể chuyển hóa xã hội Việt Nam. Ông Obama nói ở Hà Nội: “TPP sẽ giúp cho xã hội minh bạch, sẽ ngăn bớt tham nhũng, sẽ bảo vệ môi trường,...” Nói đến tham nhũng là điểm đúng tử huyệt của chế độ độc tài đảng trị. Nói tới môi trường làm xúc động tâm can hàng triệu con người đang sống ngất ngư vì cá chết.

Người dân Việt Nam đang ngộp thở vì sống 70 năm dưới chế độ sắt máu cũng cảm thấy một luồng gió mát khi một tổng thống Mỹ đi uống bia, ăn bún chả, ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng plastic, trò chuyện với một đầu bếp quốc tế Anthony Bourdain; rồi còn đem khoe ở hội trường Mỹ Ðình. Mạng Internet ở Việt Nam tràn ngập những lời bình phẩm: “Thể hiện nhân cách sống, hòa đồng, gần gũi, thân thiện, khiến mọi người thêm yêu mến và cảm phục.” “Một người lãnh đạo tuyệt vời, tài giỏi và giản dị, miệng luôn mỉm cười đầy thân thiện. Tuyệt vời Obama!” Có người còn tính tiền: “Chi phí bữa ăn của hai người chỉ có 6 USD.” Tôi thấy cả nét đẹp của người Việt và sự thân thiện, dễ gần của ngài tổng thống. Nhiều người khen Obama cầm đũa thông thạo.

Không biết công an Việt Nam và mật vụ Mỹ đã gặp quý vị chủ quán Bún chả Hương Liên và các thực khách bao nhiêu lâu, trước khi ông tổng thống Mỹ tới ăn. Bao nhiêu người ngồi trong quán lúc đó là do tòa Ðại Sứ Mỹ dàn xếp trước? Nhưng việc dàn cảnh rất tài, trông rất tự nhiên! Ðây là một dịp hiếm hoi khi một quán ăn Việt Nam bán cho thực khách ngoại quốc mà không tự động tăng giá lên gấp ba, gấp năm lần! Nếu đồng bào mình giữ được “nét đẹp” này, tạo thành thói quen, thì chuyến công du của ông Obama mới thật sự thành công!

Ðáp lại thịnh tình đó, ông Obama đã nói chuyện nhân quyền cho dân Việt cùng nghe. Ông khẳng định: “...nhân quyền là những giá trị phổ quát, chung của cả loài người. Các quyền tự do ngôn luận, tự do biểu tình đều ghi trong Hiến Pháp chính nước Việt Nam của quý vị. Tôi tin các nước sẽ thành công hơn khi người dân có có quyền phát biểu, quyền ngôn luận, quyền tiếp nhận thông tin, khi đó kinh tế sẽ phát triển. Khi báo chí, truyền thông có thể soi mói tới những chỗ tối tăm, các quan chức sẽ bị kiểm soát. Lời chỉ trích sẽ khiến chúng ta tiến bộ, ai có ý tưởng mới mẻ có thể chia sẻ. Bầu cử tự do sẽ có những lãnh đạo tốt. Tự do tôn giáo sẽ khiến người ta yêu thương nhau hơn. Ðược tự do lập hội, người dân sẽ giúp giải quyết những vấn đề mà chính phủ không thể làm.”

Chắc thanh niên Hà Nội, Sài Gòn, Vinh, Huế, Ðà Nẵng,... đang tán gẫu với nhau trong các quán bún chả, quán cà phê, về những chuyện ông Obama mới nói ở Hà Nội, và sắp nói tại Sài Gòn. Lại thêm việc Ðại Học Fulbright sắp mở trong ba tháng nữa. Chưa bao giờ một đại học tư được cấp giấy phép nhanh kỷ lục như vậy! Ðây là đại học tư, vô vị lợi, độc lập, tự trị, lần đầu tiên trong chế độ Cộng Sản Việt Nam! Rõ ràng là đảng Cộng Sản đang khát nước! Nói tới Nguyễn Du, Lý Thường Kiệt, ông Obama đã khích động niềm tự hào của giới trẻ Việt Nam, tự hào về văn hóa dân tộc, tự hào về lịch sử oai hùng!

Nhiều bạn trẻ Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài, đang Google coi hai câu thơ Nguyễn Du trích từ đoạn nào trong Truyện Kiều: “Rằng trăm năm cũng từ đây, của tin gọi một chút này làm ghi!”! Bà mẹ tôi, sinh trưởng ở Ðáp Cầu, bên dòng sông Như Nguyệt, nếu còn sống chắc cũng muốn xoa đầu một “ông Tây Ðen” biết lẩy Kiều, bà sẽ mắng yêu: “Cái chú nhọ nồi này, ai dạy mà chú lém thế, láu thế?” Nhiều thanh niên Việt Nam chưa nghe hai câu Kiều này bao giờ. Nhiều người còn chưa hề nghe hai câu thơ Lý Thường Kiệt.

Cho nên dân Hà Nội đang kể cho nhau nghe một chuyện tiếu lâm cung đình mới. Bà chủ tịch Quốc Hội hỏi ông tổng bí thư đảng Cộng Sản: “Chúng nó nói thằng Obama nhắc đến thơ Lý Thường Kiệt. Anh biết nó là ai không?” “Biết, sao không biết! Ðồng chí Lý Thường Kiệt là bạn chí thân của Hồ chủ tịch. Hồi Bác Hồ đi lính cho Bác Mao, làm hậu cần trong Ðệ Bát Lộ Quân, bác nấu cơm, còn đồng chí Lý Thường Kiệt bổ củi và gánh nước!”

Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Vì sao Mỹ bất ngờ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam?

Tổng thống Obama loan báo quyết định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam trong cuộc họp báo chung với Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại Hà Nội, ngày 23/5/2016.

Tháng Năm 2016. Dù Tết nguyên đán đã trôi qua từ lâu, nhưng Bộ chính trị mới ở Việt Nam hoàn toàn có lý do để sung sướng khi hát lại một điển ngữ “Mùa xuân ấm áp sẽ đến sau mùa đông lạnh giá”.

‘Mùa xuân ấm áp sẽ đến sau mùa đông lạnh giá’

Chỉ ít giờ đồng hồ sau khi đặt chân đến Hà Nội, Tổng thống Mỹ Obama đã tuyên bố một quyết định gây chấn động: Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam sau 41 năm dựng rào chắn.

Khỏi phải nói, chính quyền còn lâu mới biết tôn trọng nhân quyền đã thỏa mãn đến choáng váng. Nước Mỹ quá đẹp. Mỹ từ ca ngợi tuôn ra như suối chảy. Việt - Mỹ đã hoàn toàn bình thường hóa quan hệ… Mỹ tràn đầy cơ hội bán vũ khí cho Việt Nam…Vai trò của Mỹ được nâng tầm…Obama trong lòng người dân Việt Nam…Lòng tin chiến lược vv…

Nhưng không tờ báo nhà nước nào đả động nguồn cơn chính yếu vì sao Việt Nam đang tha thiết muốn được dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí: có những dấu hiệu nào đó cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị một kế hoạch tập kích đất “Giao Chỉ”, không phải ở thì tương lai xa mà có thể ngay trong vài năm tới, thậm chí ngay trong một số tháng tới.

21/5/2016, chỉ một ngày trước khi Tổng thống Obama đến Hà Nội, Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ công bố quyết định thành lập một đơn vị tình báo mới mang tên T1.

“Tình báo Quốc phòng phải phục vụ đắc lực, hiệu quả hơn nữa cho Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội kịp thời phát hiện, đánh giá đúng tình hình để xác định chủ trương, sách lược và biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, nhất là bị động, bất ngờ về chiến lược” - một yêu cầu gần như điều lệnh quân sự được giới lãnh đạo đảng đặt ra.

Việc công bố trên báo chí về thành lập một đơn vị tình báo của Bộ Quốc phòng có thể được xem là bất thường, nếu đối chiếu với truyền thống bảo mật tuyệt đối về thông tin của những cơ quan đặc biệt, nhất là cơ quan tình báo thuộc tầm “chiến lược”.

Hầu như tương tự với sự kiện trên, kịch bản người Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương là khó hình dung nhất trong tất cả các kịch bản đã được nêu ra trước chuyến công du Việt Nam của Obama.

Từ ‘chưa có quyết định nào’…

Tại cuộc họp báo ở Hà Nội ngày 10 Tháng Năm, 2016, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel đã bắn một tín hiệu đủ rõ khi nói rằng “chưa có quyết định nào” về lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Trước chuyến đến Hà Nội của Obama chỉ vài ngày, Phó cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống - ông Ben Rhodes - còn cho rằng "Chúng tôi đã không thực hiện quyết định cuối cùng liên quan đến vấn đề này, chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ là chủ đề thảo luận với Việt Nam". Dựa theo tin tức đó, một tờ báo của Việt Nam bình luận “Như vậy gần như chắc chắn lệnh cấm vận vũ khí mà Mỹ áp đặt lên Việt Nam sẽ chưa thể được dỡ bỏ ngay trong chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama. Diễn biến mới chắc chắn sẽ làm không ít người phải cảm thấy thất vọng, vì đa phần các dự đoán đều cho rằng đây chính là “món quà” Tổng thống Obama dành tặng riêng Việt Nam”.

Với khá nhiều chuyên gia quốc tế và quốc nội, khả năng triển vọng nhất là Mỹ sẽ chỉ gỡ bỏ thêm một phần lệnh cấm vận, nhưng kèm theo những điều kiện cụ thể về nhân quyền. Việc dỡ bỏ hoàn toàn, nếu có, chỉ có thể diễn ra vào cuối năm 2016 hoặc sang năm 2017.

Trong bối cảnh đó, sự kiện Tổng thống Obama tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã có cái gì đó phi logic khi có đến nửa trăm nhà hoạt động nhân quyền và xã hội dân sự độc lập ở hai miền Bắc - Nam Việt Nam bị công an thẳng tay ngăn chặn “không cho đi đón Obama”.

Vậy khi đột ngột quyết định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương, người Mỹ nhận được gì từ chính quyền Việt Nam? Cải thiện nhân quyền, gia tăng hiện diện quân sự tại Đà Nẵng và Cam Ranh, hay cả hai?

… đến giả thiết nào?

Giả thiết đầu tiên là đơn giản nhất nhưng khó tin nhất: Washington cảm thấy lệnh cấm vận đã tồn tại quá lâu và “đã đến lúc gỡ bỏ”. Nhưng có lẽ chỉ vài phần trăm trong giới quan sát tin rằng Mỹ - quốc gia khởi nguồn chủ thuyết thực dụng - làm điều này một cách ngẫu hứng.

Giả thiết thứ hai là cuộc mặc cả về cải thiện nhân quyền với Hà Nội.

Trước chuyến công du Việt Nam, khó có thể cho rằng Tổng thống Obama và đoàn tùy tùng của ông có thể dễ dàng bỏ qua áp lực từ Quốc hội Mỹ về vấn đề nhân quyền. Khi đó, phần lớn giới nghị sĩ Mỹ đã quyết liệt yêu cầu Obama phải tỏ thái độ với Hà Nội, và Mỹ sẽ không thể có nhân nhượng nào nếu Việt Nam vẫn tiếp tục bắt bớ bất đồng, sách nhiễu các nhà hoạt động nhân quyền và gần đây đánh đập dã man nhiều người dân đi biểu tình vì môi trường.

11 tháng Năm, 2016 - Ngày Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 22, Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Busby còn khẳng định trước cộng đồng người Việt tại Washington: “Trong khi xây dựng mối liên hệ mạnh mẽ hơn với Việt Nam, tôi xin cam đoan với quý vị rằng nhân quyền vẫn là hàng đầu trong lịch trình của chúng tôi.”

Với giả thiết thứ hai này và nếu Mỹ không thay đổi quan điểm về ưu tiên nhân quyền ngay tại thời điểm Obama tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí, hẳn chính quyền Việt Nam đã phải có một nhượng bộ đủ lớn về cải thiện nhân quyền để có thể nhận được “món quà” từ phía Mỹ. Trong trường hợp khả quan, sự nhượng bộ đó phải là một cam kết có lộ trình rất chi tiết của Việt Nam về cải thiện nhân quyền, bao gồm cải cách luật pháp, tự do tôn giáo, tự do báo chí, Công đoàn độc lập và Xã hội dân sự.

Thế nhưng hàng loạt biểu hiện rõ như ban ngày khi công an Việt Nam chỉ trả tự do trước thời hạn án tù giam có 3 tháng cho duy nhất trường hợp Linh mục Nguyễn Văn Lý - trước khi Obama đến Hà Nội, còn giới hoạt động nhân quyền Việt Nam bị công an ngăn cấm thô bạo và còn bị bắt cóc - khi Obama đã đến Hà Nội…, cho thấy giả thiết về cải thiện nhân quyền là quá khó để đứng vững.

Cùng lúc, nhiều tổ chức quốc tế như Ân xá quốc tế, Theo dõi nhân quyền quốc tế và một số nghị sĩ Mỹ phải bày tỏ phản ứng bất lợi cho Tổng thống Mỹ: cho đến tận bây giờ, Việt Nam vẫn chưa có bất cứ một cải thiện nào “có thể chứng minh được” về nhân quyền mà đủ để Mỹ dang tay tự hủy bỏ một trong những đòn bẩy dân chủ then chốt là lệnh cấm vận vũ khí.

Một phóng viên của đài BBC có mặt tại Hà Nội là Jonathan Head bình luận: việc cân nhắc về nhân quyền với khả năng bỏ cấm vận vũ khí dường như đã được để sang một bên. Điều trớ trêu là phóng viên này đã trở nên một nhân chứng sống cho bình luận của mình khi ông bị chính quyền Việt Nam tước quyền tác nghiệp báo chí ngay vào ngày đầu tiên Obama có mặt tại Hà Nội.

Sau hết, chỉ còn là chủ đề lợi ích - giả thiết thứ ba. Đến lúc này và nếu có thể, hãy nhớ lại triết lý của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry phát ra vào năm 2013: Nơi nào Mỹ và Việt Nam có lợi ích chung, nơi đó hai bên có thể làm việc cùng với nhau”.

Nơi nào vậy?

Biển Đông!

Còn Cam Ranh?

Không quá khó đoán là lợi ích lớn nhất của Mỹ ở Biển Đông là bảo đảm an ninh an toàn hàng hải cùng tàu bè kinh thương của Mỹ. An ninh Biển Đông lại liên quan mật thiết với các căn cứ quân sự của Việt Nam ở Cam Ranh và Đà Nẵng. Vài ngày trước khi Tổng thống Obama đến Hà Nội, đã xuất hiện tin tức về “có khả năng Mỹ được đặt thiết bị quân sự ở Đà Nẵng để giúp phòng tránh thiên tai”. Phải chăng đó là tiền đề cho sự hiện diện cao hơn và dày hơn của đội ngũ cố vấn và binh lính Mỹ ở vùng duyên hải miền Trung Việt Nam?

Nếu quả thật Mỹ nhận được cam kết của Việt Nam về tăng cường hiện diện quân sự Mỹ ở khu vực Biển Đông, thậm chí có cả một thỏa thuận ngầm nào đó về việc tàu chiến Mỹ có thể ra vào quân cảng Cam Ranh, đó sẽ là lý do đủ lớn và đủ vững để Mỹ thấy “đã đến lúc” dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương.

Bên lề giả thiết trên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bất ngờ có chuyến làm việc ở nước Nga của Putin chỉ ít ngày trước khi Obama đặt chân đến Việt Nam. Trong thời gian Thủ tướng Phúc lưu lại Moscow, vài tờ báo Việt Nam phóng tác “Nga có thể trở lại Cam Ranh”. Nhưng sau khi ông Phúc trở về, đã không có bất cứ tin tức nào được công bố trên báo chí về sự “trở lại” ấy. Kết hợp với nhiều thông tin trước đây, có thể xác nhận rằng nước Nga hầu như không còn mặn mà với Cam Ranh, cũng như Việt Nam không nằm trong sơ đồ chiến lược của “Sa hoàng mới”.

Một chi tiết khác cũng rất đáng chú tâm: ngoài Ngoại trưởng John Kerry, có cả Cố vấn an ninh Susan Rice cũng tháp tùng Tổng thống Mỹ trong chuyến thăm Việt Nam. Sự có mặt cùng lúc của bộ ba quyền lực này cho thấy những vấn đề an ninh quan trọng như có bỏ lệnh cấm vận vũ khí hay không chỉ được quyết định vào phút cuối, căn cứ vào một hệ thống kịch bản đã được soạn sẵn.

Thể diện Mỹ: ‘được ăn, được nói, được gói mang về’

Tất nhiên khi công bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí, Tổng thống Obama có lưu ý việc bán từng mặt hàng vũ khí sẽ được xem xét căn cứ vào tình hình nhân quyền của Việt Nam cũng như mục đích sử dụng vũ khí. Nhưng nhiều dư luận cho rằng đây là một câu thòng “cho có” và ý nghĩa của câu này là khá tối nghĩa.

Nếu giả thiết về “thỏa thuận quân sự” giữa Mỹ và Việt Nam là có cơ sở, đó có thể là lý do giải thích vì sao chuyến đến sân bay Nội Bài của ông Obama lại phải dời lại đến đêm 22/5, thay vì buổi sáng hoặc buổi chiều 22/5 là thời gian diễn ra bầu cử quốc hội và cũng là thời gian có thể nổ ra nhiều cuộc biểu tình môi trường. Đến Hà Nội khi màn đêm đã đen đặc, Obama đã không được hưởng không khí đón tiếp nồng hậu vào ban ngày ban mặt của người dân chứ không phải chính quyền Việt Nam.

“Thỏa thuận quân sự” cũng có thể là lý do để giải đáp việc Tổng thống Mỹ lại chọn đến thăm “chùa lạ” - ngôi chùa có tên “Ngọc Hoàng” do người Trung Quốc lập, toàn thờ người Trung Quốc và chẳng hề tiêu biểu cho “truyền thống văn hóa Việt Nam” như một số ai đó trong “bộ tham mưu liên quân Mỹ - Việt” tư vấn cho Obama.

Và càng có thể là lý do để khiến thể diện Mỹ xuống cấp đến thê thảm khi có đến hơn phân nửa khách xã hội dân sự do chính Tổng thống Obama mời vào buổi sáng ngày 24/5 đã bị công an Việt Nam dùng nắm đấm nhốt ở nhà hoặc ở đồn - một sự thật “được ăn, được nói, được gói mang về” dành cho vị thế người đứng đầu cường quốc số 1 thế giới mà có lẽ Quốc hội và người dân Mỹ kiêu hãnh không thể tưởng tượng nổi.

Phạm Chí Dũng
Blog VOA

Nghĩ về quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam


Nhân chuyến công du của Tổng thống Barack Obama tại Việt Nam, chúng ta thử nghĩ về mối quan hệ (chính trị) giữa hai nước từng là kẻ thù của nhau trong suốt thời chiến tranh Việt Nam.

Nhắc đến chữ “kẻ thù”, xin lưu ý là, với các chính khách Mỹ, như họ thường nói, chỉ có những lợi ích quốc gia vĩnh viễn nhưng không có bạn hay kẻ thù vĩnh viễn. Bạn hay thù có thể thay đổi từng lúc, tuỳ theo quyền lợi quốc gia của họ. Mà quyền lợi quốc gia của Mỹ, trong giai đoạn hiện nay cũng như trong vài thập niên tới, chủ yếu nằm ở vùng châu Á – Thái Bình Dương nơi họ bị thách thức lớn nhất từ một cường quốc mới nổi: Trung Quốc. Có thể nói toàn bộ chiến lược quay về với châu Á và Thái Bình Dương của Mỹ đều xuất phát từ những đe doạ đến từ Trung Quốc.

Về phương diện chính trị và quân sự, những đe doạ từ Trung Quốc chủ yếu diễn ra trên mặt biển. Chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc, nếu xảy ra, chắc chắn sẽ xảy ra trên biển. Có hai vùng biển chính có thể biến thành chiến trường: Hoa Đông và Biển Đông. Khả năng bùng nổ xung đột lớn ở biển Hoa Đông tương đối ít vì ở đó Trung Quốc phải đối đầu với một kẻ thù rất giàu và cũng rất mạnh, hơn nữa, có quan hệ liên minh chiến lược chặt chẽ với Mỹ: Nhật Bản. Chỉ có ở Biển Đông là Trung Quốc có nhiều ưu thế nhất. Tất cả các đối thủ của Trung Quốc ở vùng biển ấy đều nhỏ và yếu hơn Trung Quốc hẳn. Bởi vậy, để bành trướng lãnh hải và lãnh thổ, chắc chắn Trung Quốc sẽ chọn hướng Biển Đông của Việt Nam. Mà họ đã bắt đầu tiến trình bành trướng ấy thật. Từ hơn một năm nay, họ đã bồi đắp các bãi đá thành đảo nhân tạo và biến chúng thành các căn cứ quân sự. Các nhà bình luận chính trị dự đoán không lâu nữa, Trung Quốc sẽ tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông.

Đối diện với nguy cơ bành trướng ấy của Trung Quốc, Mỹ tuyên bố chính sách chuyển trục về châu Á – Thái Bình Dương. Ở vùng này, Mỹ đã có bốn đồng minh lâu đời và đáng tin cậy nhất: Úc, Nhật, Hàn Quốc và Philippines. Từ mấy năm nay, Mỹ ra sức tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia khác trong khu vực. Liên quan đến Biển Đông, ngoài Philippines, các nước được nhắm tới đầu tiên là Malaysia, Singapore và Việt Nam. Trong số đó, Việt Nam chiếm vị trí quan trọng hàng đầu vì Việt Nam có đảo và vùng biển bị tranh chấp nhiều nhất. Có thể nói chiến lược đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông của Mỹ sẽ phụ thuộc khá nhiều vào thái độ của Việt Nam: Nếu Việt Nam đồng tình với việc xâm lấn của Trung Quốc, Mỹ sẽ mất đi một chỗ dựa quan trọng. Quan trọng nhưng không phải bất khả thay thế: Mỹ vẫn còn nhiều đồng minh khác trong khu vực.

Về phía Việt Nam cũng vậy. Trừ phi Việt Nam cam tâm bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc, cách duy nhất để Việt Nam có thể bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông là phải liên kết với Mỹ. Trước hết, cần loại trừ ngay khả năng Việt Nam có thể một mình bảo vệ được chủ quyền của mình. Tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác hẳn những năm 1978-79. Để tự vệ, Việt Nam cần có đồng minh. Từ mấy năm nay, Việt Nam cố sức xây dựng đối tác chiến lược với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng những quốc gia thực sự có thể giúp Việt Nam trong thế trận đương đầu với Trung Quốc rất hiếm. Ngay cả Nga, nước Việt Nam hy vọng nhất, mới đây cũng tuyên bố ủng hộ Trung Quốc trong chính sách phi quốc tế hoá các tranh chấp ở Biển Đông. Ấn Độ cũng không phải là nước đáng tin cậy: Một mặt, Ấn Độ có truyền thống phi liên kết lâu đời; mặt khác, về quân sự, Ấn Độ cũng không phải là đối thủ của Trung Quốc. Đó là chưa kể, về quyền lợi, không có lý do gì để Ấn Độ chọn đứng hẳn về phía Việt Nam. Một số quốc gia khác, như Úc hay Nhật chỉ có thể trở thành hữu dụng khi Mỹ cũng nhập cuộc. Thành ra Việt Nam chỉ có một đồng minh duy nhất có động cơ và đủ khả năng để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông: Mỹ. Không còn nước nào khác. Tuyệt đối không.

Bởi vậy, có thể nói tuy cả hai có cùng quyền lợi trên Biển Đông nhưng rõ ràng là Việt Nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt Nam.

Đó là trên nguyên tắc.

Trên thực tế, cho đến nay, nước bày tỏ nhiều thiện chí nhất là Mỹ chứ không phải Việt Nam. Để củng cố mối quan hệ song phương, Mỹ có hai nhượng bộ chính: Một, thừa nhận thể chế chính trị phi dân chủ của Việt Nam (qua việc tiếp đón Nguyễn Phú Trọng ở Nhà Trắng, và những cam kết không xâm phạm vào thể chế của nhau) và hai, làm ngơ trước những sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam khi quyết định dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền. Thả người này ra, họ lại bắt người khác. Trong nhà tù của họ, do đó, lúc nào cũng đầy những tù nhân lương tâm, không có tội nào khác ngoài việc đòi hỏi dân chủ hay chống lại Trung Quốc.

Ở phương diện này, có thể nói Việt Nam đã “thắng” Mỹ.

Có điều, đó chỉ là những cái “thắng” tạm thời. Về lâu về dài, để xây dựng cái Nguyễn Tấn Dũng gọi là “niềm tin chiến lược”, hai bên cần chia sẻ với nhau những bảng giá trị chung, trong đó, nổi bật nhất là những vấn đề liên quan đến nhân quyền. Không có sự chia sẻ ấy, mọi sự hợp tác đều vẫn bị giới hạn. Chính sự giới hạn đó sẽ làm Việt Nam bị thiệt khi thực sự đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông.

Nguyễn Hưng Quốc
Blog VOA

Cảm nghĩ về chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Barack Obama tại Hà Nội

“Như nhiều người, tôi biết rằng chỉ có người Việt Nam mới có thể tranh đấu giành lại quyền làm chủ đất nước, độc lập cho đất nước, dân tộc bằng sức mạnh, nội lực và sự đấu tranh của chính mình. Hi vọng vào sự giúp đỡ, can thiệp bởi một thế lực, sức mạnh bên ngoài là điều hoang tưởng và giả sử rằng nếu có được cũng khó lòng bền vững“.

Người dân Sài Gòn đổ ra đường đón TT Obama tối 24/5/2016. Nguồn: Thao Joy/ BBC
Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng thống Barack Obama bắt đầu từ tối 22.05.206 – lúc 21:30´ giờ Việt Nam – Hiện tại ông Obama đang ở Sàigòn.

Cách xa Việt Nam hàng chục ngàn cây số, tôi theo dõi cuộc thăm viếng của ông Obama bằng TV, Facebook và… email với môt tâm trạng gần như bình thản của một người ngoại cuộc và một người ngoại quốc, dùng chữ “gần như” vì trong thâm tâm, tôi vẫn ước ao chuyến thăm viếng của ông sẽ đem lại một vài điều thay đổi tốt đẹp cho Việt Nam – dù ít ỏi – và tất nhiên không phải là bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương.

Sau khi chiến tranh Quốc – Cộng chấm dứt tháng 04.1975, Barack Obama là Tổng thống Mỹ thứ ba đến thăm Việt Nam trong hơn 41 năm.

Chuyến thăm viếng của cựu Tổng thống Bill Clinton vào năm 2000 không gây ồn ào, náo nhiệt, sôi nổi, hào hứng như lần này, có thể là do internet thời đó chưa phổ biến, mạng XH thời đó chưa có, nên nhiều người dân không biết nhiều về chuyến thăm VN của TT Clinton.

Người dân Việt Nam ở Hà Nội háo hức chờ đón chuyến viếng thăm của Barack Obama nhiều giờ trước khi chiếc máy bay Air Force One của ông đáp xuống phi trường Nội Bài vào tối ngày 22.05.2016.

Không biết bao nhiêu người dân Hà Nội – chắc phải vài ngàn là ít – đã ra đường một cách tự nguyện vào lúc khuya khoắt để vẫy tay đón chào ông, một hành động chưa hề có trước đây, chẳng những đối với lãnh đạo của một nước cựu thù mà ngay cả các nước hữu nghị anh em trong khối CS cũng không.

Điều gì đã khiến cho người dân VN nói chung, Hà Nội nói riêng, nôn nao, háo hức, vui mừng như thế? Nó hoàn toàn khác hẳn chuyến thăm viếng Việt Nam của Tập Cận Bình đầu tháng 11.2015.

Ra đón Tổng thống Obama không hề có nghi thức đón quốc khách, không có 21 phát đại bác chào mừng, không có hàng quân dàn chào danh dự, không có sự hiện diện của người nào trong tứ đầu chế Trọng, Quang, Phúc, Ngân. Có lẽ cả 4 người này đều e ngại tiếng “hắt xì” của Tập Cận Bình.

Chỉ có một ít nhân viên ngoại giao cấp thấp của Hà Nội, cùng một cô gái Việt Nam mặc áo dài vàng, trao cho ông Obama một bó hoa – lá nhiều hơn hoa.

Tuy nhiên ngược lại, thay vào những nghi thức ngoại giao rình rang có tính cách trình diễn, là những vẫy tay nồng nhiệt, chân tình, ấm áp của người dân.

Việc người dân tự nguyện ra đường đón chào nguyên thủ quốc gia khác đến thăm đất nước cũng đã từng xảy ra nhiều lần trên khắp thế giới – trừ các nước cộng sản.

Sự tự nguyện đó, nhất là vào lúc gần nửa đêm, nói lên tình cảm chân thành của người dân Hà Nội nói riêng, người dân Việt Nam nói chung đối với Tổng Thống Obama, thứ tình cảm không hề bị bắt buộc, cưỡng ép, mua chuộc, tuyên truyền dối trá…

Tình cảm đó phát xuất từ đâu? Nếu không phải là một sự tin cậy, thật sự mong muốn một mối quan hệ tốt đẹp, mật thiết cho hai đất nước, hai dân tộc?

Mặc cho những tuyên truyền gian xảo một chiều, ra rả hàng ngày trong hơn 71 năm với hệ thống báo chí, truyền thông dầy đặc, mặc cho những hình ảnh, chứng tích ngụy tao lịch sử với những chuyện hoang đường, những viện bảo tàng ngập máu, mặc cho những lễ lạc, kỷ niệm chiến thắng tốn kém, ồn ào… người dân Việt Nam giờ đây hoàn toàn không còn nhìn dân Mỹ, chính phủ Mỹ như những kẻ thù mà đảng hằng mong muốn, lèo lái.

Tổng thống Obama đến Việt Nam. Tại Hà Nội, ông không ban huấn từ một cách láo xược trước quốc hội VN như Tập Cận Bình, ông nói chuyện vui vẻ, tươi cười khi tiếp xúc, bắt tay với người dân, thưởng thức món ăn Việt Nam một cách bình dị trong một quán ăn, thân mật như với những người bạn là điều chắc chắn không một lãnh đạo cộng sản nào có thể làm được.

Trong cuộc họp báo, tuyên bố chung của lãnh đạo Mỹ-Việt, bên cạnh khuôn mặt không lấy gì làm vui vẻ cho lắm của chủ tịch nước Trần Đại Quang, phong thái hòa nhã, lịch sự, tươi cười của Obama không làm mất đi tư cách xứng đáng lãnh đạo đất nước hàng đầu thế giới của ông. Nó tương phản với thái độ trịch thượng, hách dịch, hung hăng của Tập Cận Bình khi phát biểu trước quốc hội VN tháng 11.2015.

Hợp đồng cung cấp vũ khí sát thương cho chế độ CSVN sẽ được gỡ bỏ từng bước, kèm theo một số điều kiện đã được ký kết. Những điều kiện này có được CSVN tôn trọng hay không lại là một chuyện khác. Cộng sản Việt Nam vốn dĩ là thiên tài trong lừa lọc, gian trá, phản bội.

Quyền lợi của hai chính phủ Mỹ – Cộng sản VN đã được thỏa thuận mà không có ý kiến của người dân Việt Nam, bởi chế độ CSVN hoàn toàn không do dân bầu.

Không biết sang năm, đến ngày 30.04.2017, chế độ CSVN có ăn mừng thống nhất đất nước, đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào nữa không?

Chắc chắn sẽ có nhưng lời lẽ nói về Mỹ sẽ được thay đổi, bởi ngoài chuyện đó ra, CSVN chẳng có gì để tự hào và tự sướng.

Giờ này ông Obama đã ở Sàigòn. Mọi chuyện quan trọng, cần giải quyết đã hoàn tất, những việc còn lại chỉ là phụ. Việc đi thăm chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao, gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp ở Dreamplex, qua ngày 25.04 nói chuyện với giới trẻ YSEALI ở GEM Center… có càng tốt, không có cũng chẳng sao.

Con đường đi đến dân chủ, tự do, nhân quyền cho Việt Nam sau chuyến viếng thăm của Tổng Thống Obama lại xa hơn, trắc trở, cam go, đòi hỏi hi sinh nhiều hơn.

Tuy nhiên dù thế nào đi nữa, tôi vẫn cảm phục nhân cách của ông Obama, cũng không trách cứ ông điều gì. Là người Mỹ, ông phải đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước ông lên trên hết. Chỉ buồn, tội nghiệp cho những người đã đặt quá nhiều hi vọng vào chuyến viếng thăm của ông.

Như nhiều người, tôi biết rằng chỉ có người Việt Nam mới có thể tranh đấu giành lại quyền làm chủ đất nước, độc lập cho đất nước, dân tộc bằng sức mạnh, nội lực và sự đấu tranh của chính mình.

Hi vọng vào sự giúp đỡ, can thiệp bởi một thế lực, sức mạnh bên ngoài là điều hoang tưởng và giả sử rằng nếu có được cũng khó lòng bền vững.

Thạch Đạt Lang
Ba Sàm

New York Times: Tiến về hướng Việt Nam, nhưng nhớ đến các bài học của Việt Nam

TNS John Kerry và TNS John McCain trong một phiên điều trần về VN tại Quốc hội

Khi Tổng thống Obama thăm Việt Nam, chúng tôi bị tác động do một sự kiện là hầu hết người dân của cả hai nước không có ký ức sống động của một cuộc xung đột đã cướp đi sinh mạng của hơn 58.000 người Mỹ và trên hằng triệu người Việt.

Khi những người Mỹ đã chiến đấu trong cuộc chiến, chúng ta thường xuyên được hỏi về bài học của cuộc chiến. Có vài câu trả lời dễ dàng, một phần vì mọi xung đột là có nét đặc thù và vì chúng ta đã học được rằng các cố gắng để áp dụng những bài học trong quá khứ cho các cuộc khủng hoảng mới đôi khi làm hại nhiều hơn lợi. Nhưng một vài điều là rõ ràng.

Bài học đầu tiên không phải là chuyện cá nhân cho chúng ta, nhưng là một nguyên tắc áp dụng cho tất cả những người mặc quân phục: Một lần nữa chúng ta không bao giờ nhầm lẫn giữa một cuộc chiến tranh với các chiến binh. Các cựu chiến binh Mỹ xứng đáng được chúng ta kính cẩn tôn trọng, tri ân và hỗ trợ bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào mà họ phục vụ.

Bài học thứ hai là các nhà lãnh đạo của chúng ta cần phải trung thực với Quốc Hội và người dân Mỹ về các kế hoạch, các mục tiêu và chiến lược khi sinh mạng của các nam nữ chiến binh đáng gặp nguy cơ. (Nhiệm vụ của quân chiến đấu Mỹ đầu tiên được triển khai tại Việt Nam được mô tả là “cứu trợ lũ lụt.”)

Bài học thứ ba là thể hiện sự khiêm tốn khi tự cho mình là hiểu biết về văn hoá ngoại quốc. Trong cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á, không phải các đồng minh của Mỹ và cũng không phải các đối thủ của chúng ta đã hành động phù hợp với sự mong đợi của chúng ta.

Bài học thứ tư và cuối cùng của các cuộc xung đột Việt Nam đang phơi bày trước mắt chúng ta: sự khác biệt dường như không thể hàn gắn được, nhưng với nỗ lực và ý chí đầy đủ có thể hoà giải được. Thực tế là ông Obama là Tổng thống Mỹ thứ ba liên tiếp đến thăm Việt Nam là bằng chứng cho thấy những kẻ thù cũ có thể trở thành các bạn đối tác mới.

Là các cựu chiến binh, những người đã may mắn phục vụ trong công quyền, chúng tôi rất tự hào về những đóng góp của chúng tôi để nối lại các quan hệ ngoại giao bình thường giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tiến trình khôi phục các quan hệ là khó khăn và đòi hỏi sự hợp tác đầy đủ của Hà Nội trong việc phát triển thông tin về người Mỹ mất tích từ cuộc xung đột – một nỗ lực còn tiếp tục đến nay.

Nhưng hơn 20 năm sau khi bình thường hoá, chúng ta đã đạt đến cao điểm, khi chương trình nghị sự của chúng ta với Việt Nam là nhìn về phía trước và trên phạm vi rộng. Các cuộc thảo luận của ông Obama với người Việt Nam sẽ bao gồm các vấn đề từ hợp tác an ninh, thương mại và đầu tư đến giáo dục, và từ môi trường đến tự do tôn giáo và nhân quyền.

Chương trình nghị sự rộng lớn hơn này phản ánh những thay đổi trong mối quan hệ đang triển khai tốt. Hai mươi năm trước đây, hàng năm đã có ít hơn 60.000 du khách người Mỹ đến Việt Nam. Ngày nay, có gần nửa triệu. Hai mươi năm trước, thương mại song phương về hàng hoá của chúng ta với Việt Nam chỉ là 450 triệu. Ngày nay, nó gấp 100 lần. Hai mươi năm trước đây, đã có ít hơn 1.000 sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ngày nay, có gần 19.000.

Đáng kể hơn, trong Bộ Chính trị Việt Nam có hai người đạt được trình độ đại học Mỹ khi họ theo chương trình học bổng Fulbright. Do đó, trong tuần này, một tổ chức mới cho chương trình cao học sẽ mở ra tại thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Fulbright Việt Nam, đó là chuyện thích hợp. Một người trong chúng tôi, Thượng nghị sĩ Kerry tự hào phục vụ trong chức vụ là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của trường.

Gần nửa thế kỷ trước, khi chúng tôi đã phục vụ ở Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ tưởng tượng được rằng đất nước của chúng ta sẽ một ngày nào đó làm việc với chính phủ Hà Nội để giúp họ giữ đồng bằng sông Cửu Long bằng cách tạo ra một sáng kiến để quản lý hệ sinh thái và đối phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chúng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng rằng hai nước chúng ta sẽ là đối tác trong một thỏa thuận về mẩu mã trong thương mại, trong các đối tác Xuyên Thái Bình Dương, với mục đích là nâng cao tiêu chuẩn lao động và môi trường, đồng thời mở rộng sự thịnh vượng ở nước ta và các nước dọc theo vòng cung Thái Bình Dương.

Sẽ khó khăn hơn để tưởng tượng rằng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ hợp tác về các vấn đề an ninh. Hoa Kỳ đã giúp thành lập một trung tâm đào tạo mới cho Quân đội Nhân dân Việt Nam trong các vùng ngoại ô của Hà Nội, nơi những người lính trẻ Việt sẽ chuẩn bị để phục vụ trong nhiệm vụ gìn giữ hòa bình do Liên Hiệp Quốc tài trợ.

Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam đang tiếp xúc thường xuyên, và các nhà ngoại giao của chúng ta tham khảo ý kiến thường xuyên về những tranh cãi xung quanh tranh chấp chủ quyền hàng hải ở Biển Đông. Chính phủ của chúng ta không đứng về phía nào trong cơ sở pháp lý của các yêu sách, nhưng chúng ta tin tưởng mạnh mẽ rằng họ nên được giải quyết một cách hòa bình và phù hợp theo với luật pháp quốc tế và không được đơn phương theo bất kỳ quốc gia nào tìm cách khẳng định quyền bá chủ trên các nước láng giềng.

Dĩ nhiên, Hoa Kỳ và Việt Nam có hệ thống chính trị khác nhau và phương sách khác nhau đối với một số vấn đề. Nhưng nhân quyền là phổ quát, và chúng ta đã làm rõ ràng để các nhà lãnh đạo Hà Nội tin mạnh mẽ là Việt Nam sẽ đạt được đầy đủ tiềm năng chỉ nếu và khi người dân có quyền thể hiện một cách tự do trong phạm vi chính trị, lao động, các phương tiện truyền thông và tôn giáo. Trong cuộc viếng thăm Việt Nam, chúng tôi đã rất ấn tượng bởi sự háo hức của người dân Việt khi họ tận dụng lợi thế của công nghệ và cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu. Chúng tôi tin rằng chính phủ Việt Nam không có gì để mất, và đạt được nhiều bằng cách tin tưởng người dân Việt.

Nhìn về tương lai, trên hết, chúng ta biết rằng lợi ích hỗ tương sẽ thúc đẩy quan hệ đối tác của chúng ta với Việt Nam. Cũng như vậy, nhưng khi nó được củng cố do tình cảm thu hút tự nhiên giữa các xã hội của chúng ta. Tình cảm này bao gồm các mối quan hệ gia đình, một xu hướng lạc quan, lòng mong muốn mãnh liệt cho tự do và độc lập và khi am hiều một cách khó khăn rằng hòa bình là được yêu chuộng nhiều hơn là chiến tranh.

John Kerry là Ngoại trưởng Hoa Kỳ. John McCain là Thượng Nghị sĩ đảng Cộng hòa bang Arizona, Chủ tịch của Ủy ban Quân vụ Thượng viện. Bob Kerrey là cựu Thượng Nghị sĩ đảng Dân chủ bang Nebraska, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Đại học Fulbright Việt Nam.

John Maccain, John Kerry Bob Kerry | New York Times
Dịch giả: Đỗ Kim Thêm
Ba Sàm
Nguồn: Moving On in Vietnam, but Remembering Its Lessons - John Maccain, John Kerry và Bob Kerry | New York Times


Moving On in Vietnam, but Remembering Its Lessons

Nicole Xuphoto
AS President Obama visits Vietnam, we are struck by the fact that most citizens of both countries have no living memory of a conflict that claimed the lives of more than 58,000 Americans and upward of a million Vietnamese.

As Americans who fought in that war, we are frequently asked about its lessons. There are few easy answers, in part because every conflict is unique and because we have learned that attempts to apply past lessons to new crises sometimes do more harm than good. But a few things are clear.

The first is not personal to us, but a principle that applies to all who wear the uniform: We must never again confuse a war with the warriors. American veterans deserve our deepest respect, gratitude and support whenever and wherever they serve.

The second lesson is that our leaders need to be honest with Congress and the American people about our plans, goals and strategy when the lives of our fighting men and women are put at risk. (The mission of the first American combat troops deployed to Vietnam was described as “flood relief.”)

The third is to exercise humility in assuming knowledge about foreign cultures. During the war in Southeast Asia, neither America’s allies nor our adversaries acted in accordance with our expectations.

A fourth and final lesson of the Vietnam conflict is playing out before our eyes: that with sufficient effort and will, seemingly unbridgeable differences can be reconciled. The fact that Mr. Obama is the third consecutive American president to visit Vietnam is proof that old enemies can become new partners.

As veterans who were fortunate to serve in public office, we are proud of the contributions we made to the resumption of normal diplomatic relations between the United States and Vietnam. The process of restoring relations was arduous and required full cooperation by Hanoi in developing information about Americans missing or unaccounted for from the conflict — an effort that continues today.

But we have reached the point, more than 20 years after normalization, when our agenda with Vietnam is forward-looking and wide-ranging. Mr. Obama’s discussions with the Vietnamese will cover issues from security cooperation to trade and investment to education, and from the environment to freedom of religion and human rights.

This wider agenda reflects changes to the relationship that are well underway. Twenty years ago, there were fewer than 60,000 American visitors annually to Vietnam. Today, there are nearly half a million. Twenty years ago, our bilateral trade in goods with Vietnam was only $450 million. Today, it is 100 times that. Twenty years ago, there were fewer than 1,000 Vietnamese students in the United States. Today, there are nearly 19,000.

More remarkably, the Vietnamese Politburo includes two people who earned graduate degrees in the United States while on Fulbright scholarships. It’s appropriate, therefore, that this week, a new institution of higher learning will open in Ho Chi Minh City: Fulbright University Vietnam. One of us, Senator Kerrey, is proud to serve as chairman of the university’s board.

Nearly half a century ago, when we were serving in Vietnam, we would never have imagined that our country would one day work with the government in Hanoi to help save the Mekong River Delta by helping create an initiative to manage its ecosystem and cope with the effects of climate change. We could never have imagined that our two countries would be partners in a landmark trade agreement, the Trans-Pacific Partnership, which is intended to raise labor and environmental standards while expanding prosperity in our country and all along the Pacific Rim.

It would have been even harder to imagine that the United States and Vietnam would be cooperating on security issues. And yet the United States has helped establish a new training center for People’s Army of Vietnam on the outskirts of Hanoi, where young Vietnamese soldiers will prepare for service in United Nations-sponsored peacekeeping missions.

The United States and Vietnamese militaries are in frequent contact, and our diplomats consult regularly about the controversy surrounding competing maritime claims in the South China Sea. Our government does not take sides on the legal merits of these claims, but we believe strongly that they should be settled peacefully and in accordance with international law and not unilaterally by any country seeking to assert hegemony over its neighbors.

Of course, the United States and Vietnam have different political systems and different approaches to some issues. But human rights are universal, and we have made clear to the leaders in Hanoi our strong belief that Vietnam will reach its full potential only if and when its people have the right to express themselves freely in the arenas of politics, labor, the media and religion. In our visits to Vietnam, we have been impressed by the eagerness of its citizens to take advantage of technology and to compete in the global labor market. We are convinced that the government in Vietnam has nothing to lose, and much to gain, by trusting its citizens.

Looking to the future, we know that mutual interests, above all else, will drive our partnership with Vietnam. But it is strengthened, as well, by the natural affinities between our societies. These include family ties, a tendency toward optimism, a fierce desire for freedom and independence and a hard-earned appreciation that peace is far, far preferable to war.

John Kerry is the secretary of state. John McCain, a Republican senator from Arizona, is chairman of the Senate Armed Services Committee. Bob Kerrey, a former Democratic senator from Nebraska, is chairman of the board of Fulbright University Vietnam.

Follow The New York Times Opinion section on Facebook and Twitter, and sign up for the Opinion Today newsletter.

Blogger Đoan Trang: An ninh Việt Nam bảo ông Obama nói dối

Blogger Đoan Trang: An ninh Việt Nam bảo ông Obama nói dối

Một nhà báo tự do ở Việt Nam cho biết an ninh trong nước thách thức bà đâm đơn kiện sau khi “chặn” bà tới gặp Tổng thống Barack Obama, đồng thời, theo lời bà, nói rằng người đứng đầu Nhà Trắng “nói dối”.

Blogger Đoan Trang cho biết, sau hơn một ngày bị giữ, bà được thả chiều 24/5, ít lâu sau khi Tổng thống Barack Obama có cuộc gặp với một số thành viên của xã hội dân sự Việt Nam.

Bà Trang kể lại rằng một số người mặc thường phục, tự xưng là từ "Cục Bảo vệ An ninh Chính trị, Tổng cục an ninh của Bộ Công an", đã giữ bà lại tại một nhà khách ở tỉnh Ninh Bình trong khi bà đang trên đường từ Sài Gòn trở về Hà Nội để tới gặp Tổng thống Mỹ.

Bà nói tiếp: “Mọi người đều hiểu bắt để chặn đi gặp ông Obama, nhưng mà họ không muốn nói như thế. Họ bảo là bắt để làm việc, liên quan tới các tài liệu ở trên Facebook. Họ giữ rõ ràng là vì mục đích khác, nhưng họ lại cứ nói theo kiểu là không phải vì chuyện ông Obama mà chuyện trên Facebook. Lúc mình nói rằng chúng ta không cần phải diễn kịch với nhau như thế này, và tôi nghĩ rằng việc chặn một người đi gặp tổng thống một nước khác là chuyện không đúng về mặt ngoại giao và nó không đàng hoàng. Họ nói rằng ‘chúng tôi không giữ chị vì việc của Obama, mà vì Facebook’. Chị muốn kiện tụng thì cứ việc kiện. Họ có nói thêm rằng thực ra cuộc gặp của ông Obama và khối xã hội dân sự độc lập là một sự dối trá của Obama bởi vì theo như nguồn tin của phía họ, thì trong lịch trình hoạt động thực sự của Obama ở Việt Nam thì không có màn nào là màn gặp các đại diện của xã hội dân sự độc lập cả, nghĩa là Obama nói dối.”

Theo đoạn video đăng tải trên trang web của Nhà Trắng, chỉ có một số nhà hoạt động ở Việt Nam tham gia cuộc gặp với ông Obama tại một khách sạn ở Hà Nội. Sau cuộc gặp, Tổng thống Mỹ cho báo giới hay rằng “một số nhà hoạt động đã bị ngăn không cho tới gặp ông”.

Nhà Trắng chưa đưa ra phản ứng sau các cáo buộc của phía an ninh Việt Nam, như theo lời của blogger Đoan Trang. Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng chưa lên tiếng về tuyên bố của Tổng thống Obama.

VOA Việt Ngữ cũng không thể liên lạc với cơ quan công an mà bà Trang nêu ra để phỏng vấn.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A chuẩn bị đi gặp Tổng thống Obama. Ông post trên trang Facbook của mình: Có thể bị chặn, bị bắt. Báo trước để bà con được rõ. Khổ các bạn an ninh thức thâu đêm (23 giờ hôm qua cả chục cậu ngồi bên nhà đối diện).
Trong khi đó, tiến sỹ Nguyễn Quang A cho biết, ông “không có duyên với ông Obama”, sau khi sáng nay, 24/5, bị các nhân viên an ninh Việt Nam “quăng lên xe” rồi đưa ra khỏi Hà Nội cho tới khi Tổng thống Hoa Kỳ rời thủ đô của Việt Nam để vào TP HCM.

Trong bài phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội hôm 24/5, Tổng thống Obama cũng nhắc tới vấn đề mà Việt Nam và Mỹ vẫn còn khác biệt, đó là nhân quyền.

Ông Obama cho rằng việc cho phép người dân tự do bày tỏ ý kiến, và tiếp cận thông tin chỉ làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

Ông nói thêm: “Các quốc gia thường thành công hơn khi người dân được tự do bày tỏ suy nghĩ, được phép hội họp mà không sợ bị trấn áp, hay có thể tiếp cận Internet và mạng xã hội. Bảo đảm các quyền đó không đe dọa tới ổn định mà thực ra còn củng cố ổn định, và là nền tảng cho phát triển.”

Phát biểu của ông Obama được đưa ra một ngày sau khi nhà lãnh đạo Mỹ công bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam.

  Thông điệp mình muốn nói với ông Obama nó không phải xấu như họ nghĩ. Nó có lợi chung cho lợi ích quốc gia. Họ không cần biết mình nói gì thì đã chặn rồi. Trước hết, mình hoan nghênh dỡ bỏ việc cấm vận vũ khí với Việt Nam. Trong bối cảnh, Trung Quốc tiếp tục gây hấn trên biển Đông, thì bắt buộc Việt Nam phải tăng cường vũ khí, càng hiện đại càng tốt, tốt nhất là từ Mỹ...Về vấn đề nhân quyền, mình muốn 4 quyền sau đây được cải thiện, một là quyền tự do ngôn luạn; hai là quyền tự do lập hội và tụ tập ôn hòa; ba là quyền tự do tham gia vào chính trị, và vấn đề thứ tư mà mình muốn đề nghị đó là thúc đẩy quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam.

Blogger Đoan Trang nói
Quyết định này sau đó vấp phải sự chỉ trích của một số tổ chức nhân quyền, trong đó có Human Rights Watch. Ông Phil Robertson, giám đốc phụ trách châu Á của cơ quan thúc đẩy nhân quyền này, nói với đài VOA rằng Hoa Kỳ đã “tặng thưởng” Việt Nam ngay cả khi chính quyền Hà Nội chưa thực hiện điều gì nổi bật về nhân quyền.

Trong khi đó, blogger Đoan Trang cho biết bà ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm vận:

“Thông điệp mình muốn nói với ông Obama nó không phải xấu như họ nghĩ. Nó có lợi chung cho lợi ích quốc gia. Họ không cần biết mình nói gì thì đã chặn rồi. Trước hết, mình hoan nghênh dỡ bỏ việc cấm vận vũ khí với Việt Nam. Trong bối cảnh, Trung Quốc tiếp tục gây hấn trên biển Đông, thì bắt buộc Việt Nam phải tăng cường vũ khí, càng hiện đại càng tốt, tốt nhất là từ Mỹ. Do vậy, việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí là cần thiết. Việc đó độc lập với chuyện cải thiện nhân quyền. Nó không phải là việc loại trừ nhau, anh chỉ được chọn một trong hai. Về vấn đề nhân quyền, mình muốn 4 quyền sau đây được thực hiện, một là quyền tự do ngôn luận; hai là quyền tự do lập hội và tụ tập ôn hòa; ba là quyền tự do tham gia vào chính trị, và vấn đề thứ tư mà mình muốn đề nghị đó là thúc đẩy quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam.”

Ngoài ra, blogger này cho biết bà cũng tính sẽ kêu gọi chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama giúp điều tra vụ cá chết hàng loạt ở miền Trung.

Vừa qua, có hơn 100.000 người đã gửi kiến nghị lên Nhà Trắng, đề nghị Tổng thống Mỹ nêu vấn đề cá chết và thảm họa tự nhiên ở miền Trung trong các cuộc gặp với giới lãnh đạo Việt Nam.

Hiện chưa rõ là trong các cuộc trao đổi kín, ông Obama nêu lên vấn đề như theo lời kêu gọi của người Việt hay không.

Cập nhật: Chính phủ Mỹ mới cho biết đã lên tiếng phản đối Việt Nam ‘ngăn cản’ các nhà hoạt động gặp ông Obama ở Hà Nội. Phó Cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, ông Ben Rhodes, hôm nay nói rằng chính quyền của ông Obama và đích thân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã nêu vấn đề này với phía Việt Nam. Quan chức thân cận với Tổng thống Obama nói rằng vụ việc cho thấy cuộc gặp là “nguồn cơn gây khó chịu” cho chính phủ Việt Nam. Ông Rhodes cho biết thêm rằng ông sẽ tiếp tục theo dõi để bảo đảm rằng các nhà hoạt động được tự do và không bị trừng phạt.


VOA

Một số khách mời của Obama 'bị chặn'

Ông Obama có buổi gặp một số thành viên xã hội dân sự tại Hà Nội hôm 24/5

Tổng thống Hoa Kỳ nói một số nhà hoạt động đã bị ngăn cản, không thể tới dự cuộc gặp mặt với ông hôm thứ Ba 24/5.

Trước thời điểm diễn ra cuộc gặp, trên mạng xã hội có thông tin một số khách mời là tiến sĩ Nguyễn Quang A, luật sư Hà Huy Sơn, nhà báo Đoan Trang và blogger Thảo Teresa bị ngăn cản và câu lưu.

Cuối cùng, chỉ sáu khách mời có mặt, gồm nhà nghiên cứu xã hội Lê Quang Bình, ca sĩ Mai Khôi, nhà báo Mai Phan Lợi, mục sư Nam Quốc Trung, mục sư Lê Quốc Huy và bà Nguyễn Hồng Oanh, giám đốc trung tâm IDEA (Ban hành động vì sự phát triển của người khuyết tật).

Ông Barack Obama nói tuy Việt Nam đã có những tiến bộ nhưng Washington quan ngại về những giới hạn mà Hà Nội áp đặt lên vấn đề tự do chính trị.

“Hiện vẫn đang có những quan ngại to lớn trong vấn đề tự do ngôn luận, tự do hội họp, trách nhiệm giải trình của chính phủ,” ông nói trong cuộc gặp sáu thành viên xã hội dân sự tại khách sạn JW Marriot, Hà Nội.



“Tôi đã nhấn mạnh trong các cuộc họp của tôi ngày hôm qua với Chủ tịch nước, Thủ tướng, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội rằng chúng tôi tôn trọng chủ quyền và độc lập của Việt Nam.”

Ông Obama có buổi gặp một số thành viên xã hội dân sự tại Hà Nội hôm 24/5

“Rốt cuộc thì nhân dân Việt Nam là những người quyết định xem xã hội của họ sẽ hoạt động ra sao, và chính phủ của họ thế nào.”

“Nhưng chúng tôi tin vào những giá trị phổ quát nhất định, và điều quan trọng là chúng tôi phải đại diện nói ra những giá trị đó ở bất kỳ những nơi nào chúng tôi tới.”

“Điều đặc biệt quan trọng và hữu ích cho tôi là được trực tiếp lắng nghe những người, vốn nhiều khi phải chịu các điều kiện ngặt nghèo, vẫn mong muốn cất lên tiếng nói vì tự do và nhân quyền.”

“Tôi cần phải lưu ý rằng đã có một số nhà hoạt động khác được mời nhưng họ đã bị chặn không thể tới đây vì những lý do khác nhau.”

“Tôi cho rằng đây là một chỉ dấu cho thấy mặc dù đã có ít nhiều tiến bộ và mặc dù chúng tôi từng hy vọng là với việc có một số cải cách tư pháp đang được dự thảo, được thông qua thì sẽ có những tiến bộ thêm nữa, nhưng vẫn có những người bị cản trở khi muốn tụ tập ôn hòa để nói về những vấn đề mà họ quan tâm sâu sắc.”

Ông Nguyễn Quang A là một trong những người được mời nhưng đã không có mặt trong cuộc gặp với Tổng thống Obama

'Không nói về bầu cử Quốc hội, nhân quyền và tù chính trị'

“Cuộc gặp Tổng thống Obama diễn ra trong vòng nửa giờ, mỗi khách mời có hơn một phút trình bày về bản thân và lĩnh vực mà mình đang hoạt động,” bà Nguyễn Hồng Oanh, một trong sáu khách dự, nói với BBC Tiếng Việt sau cuộc gặp.

“Tôi nói về quyền của người khuyết tật, ông Bình nói về quyền của người LGBT, cô Khôi nói về quyền tự do biểu diễn.”

“Không có ai đề cập về chuyện bầu cử Quốc hội cũng như vấn đề nhân quyền hay tù nhân chính trị”.

Bà cũng cho hay là “chỉ hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền của người khuyết tật, không quan tâm đến chính trị nên không biết về những khách mời khác như ông Quang A”.

“Tôi không rõ là những khách mời không đến được là do bị ngăn cản hay lý do nào khác,” bà nói.

“Nói chung, tôi nghĩ mọi người có tâm lý đến trao đổi để Tổng thống Mỹ nắm bắt tình hình xã hội dân sự Việt Nam chứ không kỳ vọng có sự thay đổi nào. Việc nhà mình thì mình tự giải quyết thôi.”

BBC

Obama: Tôi bị chỉ trích hàng ngày và nhờ đó nước Mỹ lớn mạnh

“Tôn trọng các quyền phổ quát sẽ giúp một quốc gia thành công”

Quyền con người không phải là mối đe doạ, mà là nền tảng cho sự phát triển – Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trước hàng nghìn cử toạ tại Hà Nội sáng ngày 24/5/2016.

Luật Khoa tạp chí xin đăng tải trích đoạn nói về nhân quyền trong bài phát biểu của ông Obama về quan hệ Việt – Mỹ sáng ngày 24/5/2016 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội trong chuyến thăm chính thức của ông tới Việt Nam. Bản dịch của Lê Nguyễn Duy Hậu và Vành Khuyên, được đăng tải lần đầu trên Facebook cá nhân, Luật Khoa đăng tải lại với một số sửa đổi nhỏ không ảnh hưởng đến nội dung.

***

“Mặc dù bây giờ chúng ta đang hợp tác rất chặt chẽ trong những lĩnh vực tôi đã đề cập trên, quan hệ đối tác giữa hai bên bao gồm cả yếu tố thứ ba: giải quyết các vấn đề mà hai chính phủ đang còn bất đồng, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Tôi không nói đây là vấn đề của riêng Việt Nam. Không một quốc gia nào hoàn hảo cả.

Hai thế kỷ trôi qua và nước Mỹ vẫn đang phải nỗ lực để đạt đến những ý tưởng khởi sinh ra nó. Chúng tôi vẫn phải đối đầu với các vấn đề của mình như tiền bạc chi phối chính trị, sự bất bình đẳng kinh tế ngày càng cao, phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp hình sự, phụ nữ vẫn chưa được trả lương bằng nam giới trong cùng công việc.

Chúng tôi vẫn có vấn đề và vẫn bị chỉ trích; tôi cam đoan với các bạn, tôi nghe những lời chỉ trích đó hàng ngày.

Nhưng chính sức ép đó, những tranh luận mở đó, việc đối mặt với những khiếm khuyết của chính mình, và việc cho phép mọi người đều được có tiếng nói, đã giúp chúng tôi lớn mạnh hơn, thịnh vượng hơn, và công bình hơn.

Tôi đã nói từ lâu, nước Mỹ không có ý định áp đặt thể chế chính trị của mình lên Việt Nam. Nhưng những quyền mà tôi nói ở đây, tôi tin nó không chỉ là giá trị của Mỹ mà là những giá trị có tính toàn cầu. Nó được ghi nhận trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Quát. Những quyền này còn được ghi nhận trong chính Hiến pháp của Việt Nam rằng công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền tụ tập và quyền biểu tình. Những điều đó nằm trong chính Hiến pháp của Việt Nam!

Vì vậy, đây thực chất là vấn đề mà tất cả chúng ta, mỗi quốc gia, phải áp dụng các nguyên tắc này một cách nhất quán. Chúng ta phải đảm bảo rằng chúng ta, mỗi công chức nhà nước, phải thực sự tin và làm theo những lý tưởng này.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến. Việt Nam cam kết thông qua các luật để cụ thể hóa Hiến pháp mới và để phù hợp với pháp luật quốc tế. Việt Nam vừa qua đã thông qua một đạo luật buộc chính phủ phải thông tin thêm về ngân sách và người dân có thể tiếp cận thêm thông tin. Và như tôi đã nói, Việt Nam cũng đã cam kết các chuẩn mực về kinh tế và môi trường lao động theo TPP. Tất cả đều là những bước đi khả quan.

Cuối cùng thì tương lai của Việt Nam sẽ được chính người dân Việt Nam quyết định. Mỗi quốc gia phải lựa chọn con đường riêng cho mình. Hai quốc gia có sự khác nhau về truyền thống, thể chế chính trị và văn hóa, nhưng với tư cách là một người bạn của Việt Nam, cho phép tôi được chia sẻ quan điểm của mình về lý do tôi tin rằng một quốc gia sẽ thành công hơn khi các quyền phổ quát được tôn trọng.

Khi quyền tự do biểu đạt và quyền tự do ngôn luận được tôn trọng và khi người dân có thể chia sẻ ý tưởng, truy cập internet và mạng xã hội mà không bị cản trở, nó sẽ là nhiên liệu cho sự năng động mà nền kinh tế cần để phát triển. Đó là cách mà các ý tưởng mới hình thành, là cách mà Facebook xuất hiện. Đó là cách những công ty vĩ đại của chúng tôi hình thành. Vì con người có ý tưởng mới, mang tính khác biệt và họ có thể chia sẻ nó.

Khi quyền tự do báo chí được tôn trọng, khi nhà báo, blogger có thể đưa ra ánh sáng những vụ việc bất công và lạm dụng, nó sẽ khiến các công chức trở nên có trách nhiệm và giúp công chúng tự tin hơn rằng hệ thống thực sự hiệu quả.

Khi ứng cử viên có thể ứng cử và tranh cử một cách tự do và cử tri có thể chọn người lãnh đạo của mình trong một cuộc bầu cử tự do và công bằng, nó giúp cho đất nước bền vững vì người dân biết rằng tiếng nói của họ được lắng nghe và sự thay đổi trong hòa bình là hoàn toàn có thể. Và nó cũng giúp có thêm nhân lực mới cho hệ thống.

Khi quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng, nó không chỉ cho phép người dân được bày tỏ tình yêu và đức tin của mình vào một tôn giáo nào đó mà còn cho phép các tổ chức tín ngưỡng được phục vụ cộng đồng của mình thông qua trường học, bệnh viện và chăm sóc người nghèo và những người yếu thế.

Khi quyền tự do hội họp được tôn trọng, và công dân có quyền tự do tham gia các tổ chức xã hội dân sự, đất nước sẽ có khả năng giải quyết các thách thức mà đôi khi chính quyền không thể tự mình đối phó.

Do đó, tôi cho rằng bảo vệ các quyền con người không phải là sự đe dọa cho sự ổn định xã hội mà chính là góp phần củng cố sự ổn định xã hội và là nền móng cho sự phát triển.

Sau hết thì chính khát vọng được hưởng những quyền này đã thôi thúc nhân dân toàn thế giới kể cả ở Việt Nam đứng lên lật đổ chủ nghĩa thực dân. Tôi tin rằng tôn trọng những quyền này chính là biểu hiện đầy đủ nhất của một nền độc lập mà rất nhiều thế hệ đã nâng niu, kể cả ở Việt Nam, một quốc gia đã tuyên bố mình thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Việt Nam sẽ đạt được những điều này bằng khác cách Hoa Kỳ đã làm. Mỗi quốc gia sẽ có cách làm khác với cách quốc gia còn lại trên thế giới. Nhưng đây là những nguyên tắc chung mà tôi tin tất cả chúng ta luôn phải tuân theo và phấn đấu.”

Sáng lập viên của Luật Khoa tạp chí và nhiều nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam bị ngăn cản gặp Obama

Trong một diễn biến có liên quan, ít nhất hai nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam đã bị bắt cóc ngay trước cuộc gặp với Tổng thống Barack Obama. Cuộc gặp diễn ra ngay trước khi ông Obama đọc bài phát biểu trên đây vào sáng ngày 24/5/2016 để bàn về hoạt động của xã hội dân sự ở Việt Nam. Hai nhà hoạt động gồm Phạm Đoan Trang và Nguyễn Quang A.

Nhà báo Phạm Đoan Trang (ngoài cùng bên phải) và nhà hoạt động Nguyễn Quang A (thứ 3 từ trái sang) trong một cuộc gặp gỡ với Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius và các quan chức Mỹ đầu năm 2016. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Nhà báo Phạm Đoan Trang là sáng lập viên và biên tập viên của Luật Khoa tạp chí. Cô bị một nhóm người mặc thường phục bắt cóc ở Ninh Bình sáng ngày 23/5 khi đang trên đường ra Hà Nội gặp ông Obama. Ông Phạm Quang A là đại diện của Diễn đàn Xã hội dân sự, cũng bị một nhóm người mặc thường phục canh giữ nhà riêng từ ngày 23/5 và bị nhóm này bắt giữ sáng 24/5 khi vừa rời khỏi nhà.

Có nguồn tin nói rằng còn có nhiều vị khách khác là nhà hoạt động cũng bị ngăn chặn nhưng Luật Khoa chưa kiểm chứng được thông tin.

Đến trưa ngày 24/5, khi cuộc gặp trên đã kết thúc, cô Đoan Trang và ông Quang A đã được thả.

Theo Reuters, trong một cuộc họp báo cùng ngày ở Hà Nội, ông Obama đã nhắc đến sự việc này và nói rằng Washington vẫn còn nhiều lo ngại về tự do chính trị ở Việt Nam.

Trịnh Hữu Long
TC Luật Khoa

Google Search

VANEWS TV

Live: Các bạn trẻ Việt Nam đến nghe Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu. Sài Gòn, 25/5...

Subscribe me

Điều 19.2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Cộng sản Việt Nam xin tham gia năm 1982:
  • “Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình”.
  • (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)ce.)

Chuyên Đề »


 
Top ↑ Copyright © 2011. Việt Mỹ Thời Báo - All Rights Reserved
Welcome to VANEWS