VANEWS
Tin Mới Cập Nhật

Việt Nam trước 3 lựa chọn chiến lược để đối phó với Trung Quốc

Đăng bởi BTV VANEWS vào Thứ Năm, ngày 01 tháng 9 năm 2016 | 1.9.16

Tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam có tên là Hà Nội, được mua của Nga. Ảnh chụp ngày 3-1-2014. Nguồn: Vietnam News Agency/AFP/Getty Images
Trên tờ Forbes, bài viết mang tên Vietnam’s Three Strategic Options của nhà phân tích thời sự Anders Corr đã có một cái nhìn khá rõ ràng về vấn đề biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt làm ảnh hưởng đến các quốc gia chung quanh. Bài viết đáng đọc này, trích từ bài thuyết trình hội nghị 17-08-2016 tại thành phố Nha Trang, Việt Nam. Các hội nghị, được tài trợ bởi Đại học Phạm Văn Đồng và Đại Học Nha Trang, với chủ đề ‘Tình trạng pháp lý của đảo và đá Trong Luật Quốc Tế Và Thực hành Trong Biển Đông.

Các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đang ngày càng đầy tính quân sự. Còn Việt Nam thì đang trở thành một quốc gia dễ xâm lấn từ Trung Quốc, do cách chọn đứng một mình, thiếu các hiệp ước liên kết chặt chẽ để tạo đồng minh. Trong tình hình an ninh đang xấu đi của Việt Nam, việc đối phó với Trung Quốc có thể cần lựa chọn một trong ba chiến lược sau: 1) Tiếp tục các chiến lược hiện tại đi dây giữa các mối quan hệ Mỹ, Trung Quốc và Nga; 2) Liên kết đồng minh với Mỹ nhằm chống lại Trung Quốc; hoặc 3) Phát triển khả năng quân sự của Việt Nam, bao gồm cả tiềm năng về vũ khí hạt nhân.

Hành động của Trung Quốc lúc này, đang nhắm vào lãnh thổ của Việt Nam, và từ cách đối phó của Việt Nam, kết quả của sự đối đầu qua lại này, sẽ tạo ra một hiệu ứng toàn cầu. Nếu giả sử Trung Quốc đánh thắng Việt Nam, hậu quả này sẽ khiến các nước khác lo ngại và nhượng bộ phần nào với Trung Quốc. Về mặt quân sự thì Trung Quốc lúc đó cũng sẽ nổi bật hơn. Vì lẽ này, các quyết định chiến lược của Việt Nam đối phó với Trung Quốc trong những năm tới, cần được xem như mối quan tâm chính trị chung của thế giới.

Mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam, là âm mưu chiếm lấy vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ), vốn là quyền sở hữu mà Việt Nam đã được Công ước Liên Hợp Quốc về Luật dự trữ Biển (UNCLOS) nhìn nhận. Nhưng đến nay, Việt Nam chỉ có khả năng giải quyết các mối đe dọa này, bằng cách điều đình và ngăn cản. Tương lai thì Việt nam chỉ còn có thể chọn lựa một trong ba chiến lược đã nói trên.

Tất cả ba chiến lược này, cái nào cũng buộc phải chịu về chi phí, kèm những theo rủi ro, và rất có thể sẽ gây ra những thay đổi cơ bản trong chính trị và kinh tế của Việt Nam. Sự lựa chọn của Việt Nam sẽ gây ảnh hưởng đến nhiều diễn biến trong nước và quốc tế, trong tương lai gần, bao gồm việc Trung Quốc sẽ tăng cường sự hiện diện của nước này trên lãnh hải của Việt Nam, ảnh hưởng sự ổn định của lãnh đạo hiện nay của Việt Nam, cũng như các ứng phó của Trung Quốc đối với các nước khác.

Chiến lược hiện nay của Việt Nam, đi dây giữa các mối quan hệ Mỹ, Trung Quốc và Nga, là phức tạp nhất, nhưng ít có khả năng dẫn đến các xung đột ngoại giao, kinh tế, hoặc quân sự. Việt Nam là rất có khả năng đi theo lộ trình này. Vì cách này bao gồm các yếu tố tương đối vô hại: luôn để mở các cuộc đàm phán, nhận tài trợ phát triển và có được các hợp đồng mua bán với tất cả các đồng minh tiềm năng, bao gồm Mỹ. và Trung Quốc. Việt Nam chỉ cần giữ mối hợp tác quốc phòng với Mỹ và các đồng minh một cách vừa phải, có cơ hội mua và mua thêm vũ khí mới như một cách răn đe.

Việc quá nghiêng về một phía của một trong ba chiến lược có thể sẽ dẫn đến những hậu quả ngoài ý muốn. Cách tính quá kỹ của Việt Nam sẽ khiến họ bị xa lánh bởi các đồng minh lớn, và làm mất khả năng thuyết phục Hà Nội có thể là một đồng minh đáng để cam kết. Liên minh quá chặt với Mỹ. chống lại Trung Quốc sẽ dẫn đến các biện pháp trả đũa của Trung Quốc và có lẽ thêm cả Nga. Còn nếu nghĩ đến việc tạo một khả năng răn đe hạt nhân thì ắt sẽ gây ra nhiều phản ứng ngoại giao tiêu cực, ít nhất là từ cả Mỹ.

Chính sách đi dây có thể làm giảm nguy cơ của một cuộc chiến, nhưng khiến Việt Nam yếu đuối và dễ bị tổn thương khi ảnh hưởng từ Trung Quốc gia tăng. Vì lẽ Trung Quốc muốn đẩy mạnh sức mạnh kinh tế và quân sự của nước này ở châu Á, ảnh hưởng của nước này với Việt Nam cũng sẽ tăng lên. Và khi đó, Việt Nam có thể lại phải nhượng bộ các mặt chính trị, ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc trong vòng hai thập kỷ tới.

Nếu Việt Nam lựa chọn chính sách đi dây như một chiến lược chính, thì Hà Nội sẽ phải đối mặt với các đòi hỏi của Trung Quốc, nhượng Trung Quốc trong đường 9 đoạn. Từ đó sẽ cùng cam kết phát triển chung và chia sẻ doanh thu tài nguyên, hydrocarbon và đánh bắt cá, và thậm chí Bắc Kinh có thể hình thành kín đáo việc đánh thuế thương mại hàng hải của Việt Nam. Nhưng chịu ảnh hưởng Trung Quốc tại Việt Nam, và các kiểu nhượng bộ sẽ tạo ra sự bất mãn trong dân chúng Việt Nam, thậm chí gây rủi ro ổn định chính trị và nhiệm kỳ của các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Chiến lược thứ hai là giả thuyết về việc đa số lãnh đạo của Việt Nam muốn loại bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam, và dựng mối quan hệ đồng minh chặt chẽ với Mỹ và các nước khác, bao gồm cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Úc và Ấn Độ. Một phần của chiến lược này, là Việt Nam có thể kiện Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế, thông qua UNCLOS. Chiến lược thứ hai này sẽ giúp duy trì sự độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Nhưng các đồng minh mới được gần gũi của Việt Nam sẽ theo thời gian, cũng sẽ có ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam về vấn đề cải cách dân chủ hóa và tự do ngôn luận.

Việc cải cách dân chủ có thể dẫn đến các phong trào xã hội, yêu cầu lãnh đạo hiện tại ra đi để ưu tiên cải cách hiến pháp, và cuối cùng là một chính phủ dân chủ bầu. Những người chống lại chiến lược thứ hai này, thường vẽ ra một viễn cảnh về hỗn loạn chính trị, nội chiến, cũng như làm ảnh hưởng mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, vốn được coi là rất ấn tượng.

Chiến lược thứ ba là phát triển khả năng quân sự của Việt Nam đến mức Trung Quốc không muốn tấn công nữa. Hiện Việt Nam đã mua sáu tàu ngầm kilo-class từ Nga trong vài năm qua. Có nhiều loại phi đạn tấn công trên đất liền có thể với tới đảo Hải Nam, thậm chí là các thành phố sát biển như Thượng Hải. Đây là sự đa dạng diesel-điện im lặng, và mang tên lửa hành trình đất tấn công có khả năng đạt các căn cứ hải quân của Trung Quốc trên đảo Hải Nam, thành phố ven biển lớn như Thượng Hải. Việt Nam lần lần có thể mua hoặc phát triển đầu đạn hạt nhân cho các tên lửa này.

Chiến lược tăng cường quân sự có một điểm lợi cho Hà Nội, là ít có khả năng gây ra sự thay đổi chế độ. Nhưng nó sẽ mất thời gian, kích động một cuộc chạy đua vũ trang, vốn đã có ở châu Á. Và nếu là vũ khí hạt nhân, thì chắc chắn sẽ kéo theo những chi phí rất lớn từ các cuộc phản ứng ngoại giao quốc tế cũng như các đòn trừng phạt kinh tế.

Tuy nhiên, chiến lược này cũng có tính rủi ro cao. Việc xây dựng hệ thống vũ khí hạt nhân của Việt Nam, có thể khiến Trung Quốc nảy sinh việc muốn tấn công phủ đầu vào các cơ sở hạt nhân của Việt Nam. Ngoài ra, Trung Quốc có thể sử dụng các chiến thuật đối với Việt Nam như đâm tàu chìm, khiêu khích một cuộc chiến tranh, mà bình thường Trung Quốc cũng chưa tính tới.

Trung Quốc cũng có thể nhấn mạnh ưu thế riêng của mình trong một cuộc chiến tranh toàn diện với Việt Nam, kích động xung đột quân sự cường độ thấp để chứng tỏ quyết tâm của mình. Điều này có thể sẽ khiến Việt Nam phải nhượng bộ, dù có vũ khí hạt nhân hay không. Chạy đua quân sự thì tốn kém và mệt sức về chính trị, nhưng lại không mấy hiệu quả đối với một Trung Quốc đã sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Thật vậy, Trung Quốc đã chứng minh một sự thèm khát mạnh mẽ đối với rủi ro trong vài năm qua. Do lập trường ngày càng hung hăng của Trung Quốc, Việt Nam khác hơn những nước khác là không may phải đối mặt với các lựa chọn khó khăn. Các lựa chọn tốt nhất cho giới lãnh đạo và nhân dân Việt Nam, theo ý kiến của tôi, là liên minh chặt chẽ với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Úc và Ấn Độ, trong khi vẫn tăng cường khả năng quân sự của mình.

Giới lãnh đạo của Việt Nam hiện nay đang trong tay một cơ hội mang tính lịch sử. Nếu biết nắm bắt đúng lúc, nhân dân Việt Nam chắc chắn dành sự trọng vọng trong bài khải hoàn ca, cho những người xứng là người hùng của tổ quốc

(Lược dịch)

Tuấn Khanh
Blog RFA

Thế giới đang thay đổi thế nào?

“Cái chết của lạc hậu là cái chết của tư duy cũ kỹ. Tự loại mình khỏi dòng chảy thời đại cũng là một cái chết luôn có thể nhìn thấy trước”.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Tờ The Guardian cho biết, sinh viên tốt nghiệp khoa Anh ngữ Đại học Stanford, Jodie Archer, đã phát triển được mô hình máy tính có thể dự báo những tác phẩm bán chạy nhất của New York Times. Nghiên cứu này giúp Jodie Archer được tuyển làm việc ngay cho Apple iBooks và có thể tạo ra cuộc cách mạng ngành ấn loát. Những câu chuyện tương tự giúp thay đổi cuộc sống có thể thấy hàng ngày.

Thế giới đang đi tới với tốc độ chóng mặt. Năm 1998, khi Kodak có 170.000 công nhân và chiếm 85% thị trường phim nhựa toàn cầu, chẳng ai có thể hình dung rằng, chỉ ba năm sau, phim nhựa sẽ dần biến mất và Kodak sẽ phá sản. Ngày nay, không chỉ phim nhựa chết, máy ảnh gia đình cũng đã gần như mất tích. Năm 2007, khi lần đầu tiên chạm vào màn hình iPhone thế hệ thứ nhất, tôi không thể kìm được cảm giác kinh ngạc và thán phục. Cái gì thế này? Đây không phải là điện thoại. Nó là một “thiết bị” và nó rất thông minh. Nó hiển thị chính xác cả nơi tôi đang ngồi. Quả là kỳ diệu. Ngoài sức tưởng tượng.

Thế giới không dừng lại ở chiếc iPhone 2007. Năm nay, 2016, một máy tính đã đánh bại kỳ thủ cờ vây xuất sắc nhất thế giới – sớm hơn 10 năm trù tính. Bạn có bao giờ nghe đến hệ thống điện toán siêu thông minh IBM Watson? Hãy tìm hiểu về nó. Đặt theo tên Thomas J. Watson (CEO đầu tiên của IBM), hệ thống IBM Watson có thể giải đáp gần như mọi câu hỏi chuyên đề. Với IBM Watson, chúng ta có thể tìm được lời khuyên pháp lý chỉ trong vài giây với mức độ chính xác 90% so với 70% của giới luật sư tư vấn chuyên nghiệp! Ngay thời điểm hiện tại, IBM Watson có thể giúp chẩn đoán ung thư (chính xác gấp bốn lần y tá chuyên nghiệp). Cũng thời điểm hiện tại, Facebook đã có phần mềm nhận diện khuôn mặt chính xác hơn người!

Năm 2018, xe hơi tự hành sẽ xuất hiện chính thức ngoài thị trường. Mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người chết bởi tai nạn xe hơi khắp thế giới. Tính trung bình, mỗi 100.000 km có một tai nạn xe hơi. Với xe hơi tự hành, 10 triệu km mới có thể xảy ra một tai nạn. Dù khó có thể dự báo chừng nào có xe hơi in ba chiều (3D) nhưng ngày càng bắt đầu có nhiều sản phẩm in 3D. Tất cả hãng giày lớn đều đã tung ra giày 3D.

Tiến bộ nhanh nhất, có thể thấy từng ngày, là sự bùng nổ các phần mềm ứng dụng (app). Tôi vốn thích “vọc” app điện thoại. Sự xuất hiện liên tục các ứng dụng thông minh luôn mang đến sự kinh ngạc không có điểm dừng. Với “Photomath”, chỉ cần rọi camera vào một phương trình toán học, nó sẽ cho ra tức thì lời giải. Với “Camera Translator”, cũng chỉ cần rọi camera lên một hàng chữ Hoa, nó sẽ dịch sang ngôn ngữ yêu cầu (thông thường là tiếng Anh). Chưa bao giờ việc dạy kèm cho trẻ tiểu học đơn giản và tiện lợi hơn lúc này, bằng phần mềm ứng dụng. Nó không chỉ giúp thay đổi phương pháp dạy. Nó còn giúp thay đổi tư duy học. Nhờ các app như “Parrot Japanese”, “Minna No Nihongo”, “Japanese Fun Easy Learn”, tôi đã có thể giúp con mình học tiếng Nhật (nói và viết chữ Hiragana, thậm chí Kanji) một cách dễ dàng và hiệu quả.

Ngày nay, chúng ta có thể “gọi” taxi hoặc thậm chí xe ôm bằng app. “Hãng taxi” Uber không sở hữu một chiếc xe nào. Nó là một app và hiện là hãng taxi lớn nhất thế giới, hoạt động toàn cầu! Airbnb (đọc là “air+b+n+b” theo cách phát âm tiếng Anh) không có bất kỳ bất động sản nào nhưng nó là công ty dịch vụ khách sạn lớn nhất thế giới. Airbnb cũng chỉ là một ứng dụng. Amazon là siêu thị lớn nhất thế giới. Nó là một trang web.

Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Năm 1999, Bill Gates viết quyển sách mang tựa “Business @ the speed of thought”. Tốc độ tư duy ở đây là tốc độ của một cái nhấp chuột. Nó đòi hỏi phải tư duy liên tục và phải nắm bắt cơ hội với tốc độ một cái nhấp chuột.

Thế giới đang đi rất nhanh. Nó không chờ ai cả. Cách đây vài tháng, một số tờ báo Mỹ đã làm “lễ truy điệu” cho băng VHS. Loại video tape này, ra đời cách đây 40 năm, từng tạo ra cuộc cách mạng chấn động công nghiệp giải trí. Sài Gòn cách đây khoảng 30 năm từng có một thời bùng nổ cửa hàng cho thuê băng video phim quay lậu. Thế rồi DVD đánh bại VHS. Đến nay thì cả DVD cũng chết mòn. Nó được thay bằng BlueRay. Hơn nữa, người mê điện ảnh bây giờ hầu như chỉ thích xem phim online hoặc từ các app.

Cái chết của VHS, hoặc vô số trường hợp tương tự, là cái chết của kỹ thuật lạc hậu. Cái chết của lạc hậu là cái chết của tư duy cũ kỹ. Tự loại mình khỏi dòng chảy thời đại cũng là một cái chết luôn có thể nhìn thấy trước.

FB Mạnh Kim

Thông Báo 19 — Băng đảng tội ác đã thú nhận Hoạt động không quy chế pháp lý mấy chục năm ròng

Đôi lời: Tôn trọng tính thông tin đa chiều và để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trân trọng đăng nguyên bài "Thông Báo 19 — Băng đảng tội ác đã thú nhận Hoạt động không quy chế pháp lý mấy chục năm ròng", do ông Nguyễn Thanh Tú con trai của cố ký giả Đạm Phong gửi tới VA News từ Houston, Texas, USA, để bạn đọc xa gần tham khảo và chia sẽ.


Sau khi băng đảng “Việt Tân ma” ra Thông Cáo Báo Chí ngày 27 tháng 8 năm 2016, tôi đã nhận được rất nhiều cú điện thoại hỏi ý kiến về thông cáo báo chí này.  Vì nhiều người gọi quá, tôi chỉ có thể trả lời một số ít người và hứa sẽ trả lời chung trong Thông Báo 19. Và tôi xin giữ lời hứa.

Tổ chức “ma” – Thông cáo báo chí ngày 27 tháng 8 là lời tự thú rằng trong 34 năm qua băng đảng tội ác lấy danh nghĩa Việt Tân chỉ là một tổ chức “ma” vì hoàn toàn không có tư cách pháp nhân ở Hoa Kỳ và cũng chẳng ghi danh chính thức cho danh xưng “Việt Tân”.

Ông Hoàng Tứ Duy, người đứng tên thông cáo báo chí này, xác nhận rằng họ “là một thực thể có tư cách pháp nhân trong dạng unincorporated association”. Ông ta tự mâu thuẫn, giấu đầu lòi đuôi.

Chữ “incorporate” có nghĩa là đăng ký tư cách pháp nhân cho một tổ chức, với chính quyền tiểu bang. Khi một tổ chức có tư cách pháp nhân thì chỉ những người đầu lãnh của tổ chức chịu trách nhiệm về các hành vi của nó, còn các thành viên, nhân viên, và cộng sự viên thì miễn trách nhiệm. Do đó chữ “unincorporated” có nghĩa là “không tư cách pháp nhân”.

Khi tuyên bố rằng băng đảng của Ông ta có tư cách pháp nhân là một “hội đoàn không tư cách pháp nhân” (unincorporated association) thì Ông Hoàng Tứ Duy quá xem thường sự hiểu biết của mọi người. Có lẽ họ đã quen thói ăn nói và hành xử ngược ngạo từ bấy lâu nay, xem đồng bào như những người ngu dốt, dễ xỏ mũi, dễ dụ dỗ, và dễ khai thác để trục lợi.

Tệ hơn, họ cũng không hề ghi danh (đăng bạ, register) bao giờ. Ở nhiều tiểu bang, trong đó có California, một tổ chức không tư cách pháp nhân vẫn có thể ghi danh với chính quyền tiểu bang để không bị ai khác lấy mất danh xưng. Chính sách này nhằm khuyến khích và tạo thuận tiện cho người dân hoạt động xã hội dân sự ở quy mô nhỏ. Chẳng hạn một nhóm thân hữu thỉnh thoảng quyên tiền cho người vô gia cư, tổ chức lễ tết, hay lập học bổng cho học sinh nghèo vẫn có thể ghi danh. Quy mô nhỏ thường được định nghĩa là không quá 5,000 USD một năm.

Ai muốn tìm hiểu thêm về các điều kể trên thì có thể tự tra cứu các tài liệu dưới đây:
Băng đảng hoạt động dưới danh nghĩa “Việt Tân” không có tư cách pháp nhân mà cũng chẳng ghi danh tên của tổ chức với chính quyền. Họ đúng nghĩa là một tổ chức “ma”. Tôi gọi họ là Đảng “Việt Tân ma” để phân biệt với tổ chức Việt Tân đã được chúng tôi đăng ký tư cách pháp nhân với chính quyền California và với Sở Thuế Liên Bang (IRS) Hoa Kỳ.

Hãy đối chiếu – Tôi đề nghị những cơ quan truyền thông tôn trọng sự thật và mọi đồng hương có tâm hồn ngay thẳng hãy liên lạc với Ông Hoàng Tứ Duy để đòi “nói có sách, mách có chứng”: Hãy trưng dẫn bằng chứng hỗ trợ cho thông cáo báo chí mà ông ấy đứng tên. Thật hay giả thì cứ đưa chứng cớ ra mà đối chiếu thì biết ngay.

Dưới đây là hồ sơ trên trang mạng của Tiểu Bang California về tổ chức “Việt Tân” do chúng tôi đăng ký:

Ai muốn tự mình phối kiểm thì xin vào trang mạng sau đây và đánh chữ “Viet Tan”: http://kepler.sos.ca.gov/

Quý vị nên yêu cầu Ông Hoàng Tứ Duy trưng dẫn bằng chứng tương tự về cái gọi là “tư cách pháp nhân trong dạng unincorporated association” như Ông ta tuyên bố trong thông cáo báo chí. Nếu họ không làm được thì chẳng khác gì “Mặt Trận” khi xưa tuyên bố 10,000 tay súng ở Việt Nam và 36 tổ chức kháng chiến đã quy phục mà đến giờ này cũng chẳng ai kiểm chứng được. Và ngay cả khi lãnh tụ Hoàng Cơ Minh của họ đã tử vong, họ vẫn tuyên bố là còn sống và hàng năm vẫn đăng thư chúc Tết “lãnh tụ ma” gởi ra từ chiến khu, nhưng tuyệt nhiên không đưa ra được một tấm hình hay đoạn video nào làm chứng cớ. Băng đảng này trước sau vẫn như một: gian dối, tráo trở và khinh thường sự hiểu biết của mọi người.

Và đối chất – Thực ra, đã có nhà báo gọi cho “Việt Tân ma” để tìm hiểu. Ký giả Đoàn Trọng của Chương Trình Cafe Sáng trên Đài Truyền Hình Little Saigon TV ngày 30 tháng 8 cho biết đã gọi cho Ông Hoàng Tứ Duy theo số điện thoại ghi trong thông cáo báo chí nhưng chỉ gặp một cô tên là Trinh bắt máy. Cô ấy không trả lời mà chỉ ghi lại số điện thoại. Nhà báo Đoàn Trọng sau đó gọi cho Ông Trần Trung Dũng, Đảng Bộ Trưởng Nam California của Đảng “Việt Tân ma”, thì Ông này lại đẩy đưa rằng hãy chờ Ông Hoàng Tứ Duy

trả lời. Xem: https://www.youtube.com/watch?v=ZtgfN_EngWw&feature=youtu.be từ phút 3:30 trở đi.

Trước đó, tại buổi họp báo tại Orange County ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Đảng “Việt Tân ma” về cuốn phim “Khủng Bố ở Little Saigon”, nhà báo Trần Nhật Phong (BBC) đặt câu hỏi là Việt Tân hoạt động như một tổ chức chính trị hay như một hội đoàn phi lợi nhuận. Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch Đảng “Việt Tân ma”, không trả lời vào câu hỏi mà chỉ nói mơ hồ là họ hoạt động đã lâu và không có gì bất hợp pháp cả.

Xin xem đoạn 8:12 phút, Trần Nhật Phong đã nêu câu hỏi: https://www.youtube.com/watch?v=DGneMf1URD4&feature=youtu.be

Họ lấp liếm và trốn tránh vì tổ chức “ma” luôn luôn sợ sự thật. Đảng “Việt Tân ma” trong suốt 34 năm qua thực ra chỉ là một hội thân hữu không tư cách pháp nhân và không đăng ký danh xưng chính thức ở bất kỳ nơi đâu.

Trễ mất rồi – Tổ chức “Việt Tân ma” có 34 năm để đăng ký tư cách pháp nhân, hay chí ít cũng phải chính thức ghi danh với các chính quyền tiểu bang nơi mình hoạt động. Họ đã không làm điều ấy dù luôn luôn tự đánh bóng là đảng chính trị của người Việt lớn nhất hải ngoại, có hàng ngàn đảng viên ở quốc nội và khắp thế giới, “được đồng bào trong và ngoài nước, chính giới và truyền thông quốc tế biết đến”.

Nay thì đã trễ rồi. Họ có muốn đăng ký tư cách pháp nhân hay ghi danh hoạt động chính thức cũng không được nữa, bất kỳ ở tiểu bang nào, vì cái tên “Việt Tân – Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (Vietnam Reform Party)” đã thuộc về một tổ chức có đăng ký hợp pháp với chính quyền tiểu bang California và với Sở Thuế Liên Bang Hoa Kỳ.

Luật pháp không cho phép hai tổ chức có quy chế pháp nhân trùng tên nhau.

Sự tắc trách tột cùng – Đảng “Việt Tân ma” xem thường lợi ích của các người hợp tác với họ, trong đó có đảng viên và những người không là đảng viên. Có những người đã gắn bó với họ từ khi thành lập băng đảng trong “chiến khu” ở Thái Lan, ngày 10 tháng 9 năm 1982. Cũng có những người mới gia nhập gần đây. Và cũng có những người đã rời bỏ từ nhiều năm nay. Tất cả các cá nhân này đều phải trực tiếp chịu trách nhiệm về mọi hành vi của băng đảng, như là gian lận thuế, rửa tiền, lường gạt, giết người…

Rõ ràng, băng đảng tội ác mà Ông Hoàng Tứ Duy là phát ngôn nhân đã xem thường lợi ích của những người cộng tác. Điều này không có gì mới lạ. Đầu lãnh của họ đã từng xử tử những người bất đồng chính kiến, bỏ rơi những chiến sĩ “Đông Tiến” trong các nhà tù cộng sản, tố giác và đẩy không ít những người hoạt động nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam vào cảnh tù đày… Vẫn như thuở xưa, nhóm đầu lãnh chỉ xem những người cộng tác với họ như công cụ, phương tiện để thủ lợi. Vắt chanh xong thì bỏ vỏ.

Tất cả những người cộng tác từ trước đến giờ, còn hay đã rời bỏ Đảng “Việt Tân ma”, đều không được miễn trách nhiệm vì đầu lãnh cái đảng ấy không có tư cách pháp nhân. Nghĩa là chúng tôi có thể đưa đích thân các thành viên và cộng sự viên của băng đảng tội ác ra toà để kiểm tra hồ sơ thuế, tài sản, trương mục ngân hàng, mọi giao dịch tài chính…

Trong thời gian tới đây chúng tôi và luật sư của chúng tôi sẽ rất bận rộn.

Những vi phạm luật pháp – Có lẽ những người tham gia, cộng tác với, hay bao che cho Đảng “Việt Tân ma” chưa hiểu được rằng chính họ đã và đang tiếp tay trong nhiều hành vi vi phạm luật pháp và đích thân họ phải chịu trách nhiệm và lãnh hậu quả trước luật pháp.

Trước hết là gian lận thuế. Vì không là một thực thể pháp lý hoạt động chính thức, Đảng “Việt Tân ma” không thể mở trương mục ngân hàng mang tên “Việt Tân” hay “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” hay “Vietnam Reform Party”. Như thế, tiền quyên góp từ các buổi gây quỹ cho “Việt Tân” đã được đưa vào trương mục ngân hàng của ai hay của tổ chức nào? Rồi từ đó, tiền bạc được chi tiêu ra sao? Có khai thuế không? Ai khai thuế? Chẳng hạn,  Hội Đền Hùng Foundation đã chính thức tổ chức một số buổi gây quỹ cho “Việt Tân”. Đây là tổ chức ở San Diego đăng ký hoạt động theo dạng phi lợi nhuận, với số đăng ký với Sở Thuế Liên Bang là EIN 26-4039716. Tuy nhiên, từ ngày đăng ký hoạt động đến giờ (năm 2011), tổ chức này hoàn toàn không khai thuế. Xem:  http://www.guidestar.org/profile/26-4039716

Tội gian lận thuế có thể đi tù 5 năm và bị phạt nửa triệu USD, và tất cả tiền nợ thuế phải hoàn trả cho chính phủ tiểu bang và liên bang cộng với lãi suất cộng với chi phí truy tố.

Đương nhiên là rửa tiền. Đảng “Việt Tân ma” kêu gọi gây quỹ dưới danh nghĩa “Việt Tân” nhưng lại chuyển tiền sang chỗ khác mà không ai hay biết, kể cả chính quyền liên bang. Nghĩa là “Việt Tân” chỉ là một cái tên dùng để nguỵ trang. Còn nơi lãnh tiền, dùng tiền thì lại là một sự khuất tất. Đó là rửa tiền theo định nghĩa của luật pháp: che đậy xuất xứ của đồng tiền thu vào một cách bất hợp pháp, bằng cách chuyển qua các doanh nghiệp hợp pháp hay các ngân hàng nội địa hay ở ngoài nước.

Kế đến là vi phạm luật chống khủng bố “Patriot Act”. Nếu tiền ấy được gởi về Việt Nam thì có báo cáo với Bộ Ngân Khố của Hoa Kỳ không? Nếu không thì đó là vi phạm luật chống khủng bố. Đối với một tổ chức đã tự khoe về thành tích khủng bố (ám sát cán bộ cộng sản, giật sập cầu, đốt trụ sở công an… ở Việt Nam), bị tố giác đã xử tử nhiều kháng chiến quân bất đồng quan điểm, và bị tình nghi giết hại nhiều nhà báo Mỹ gốc Việt, thì sự vi phạm luật chống khủng bố lại càng mang tính cách trầm trọng.

Kế đến là vi phạm luật pháp về gây quỹ và xổ số. Ở mọi tiểu bang, muốn tổ chức gây quỹ thì phải thông báo và xin phép chính quyền tiểu bang. Đảng “Việt Tân ma” chắc chắn đã không làm điều này, và không thể làm điều này, do hoạt động không chính thức trong xã hội Hoa Kỳ trong suốt 34 năm qua. Mới tại buổi gây quỹ “Hát Cho Người Yêu Nước” dưới danh nghĩa “Việt Tân” tổ chức ngày 23 tháng 7 ở Houston, Hội Đền Hùng Foundation còn thực hiện chương trình xổ số trúng lô độc đắc là chiếc Toyota Camry trị giá 25000 USD. Chương trình xổ số này sẽ kéo dài đến cuối năm nay. Luật pháp Hoa Kỳ rất khắt khe về xổ số, nhất là khi nó mở rộng ra ngoài phạm vi một tiểu bang và giải thưởng có trị giá trên 600 USD. Xem:  http://blogs.findlaw.com/free_enterprise/2013/02/top-5-tips-to-keep-raffles-contests-legal.html.

Khả năng băng đảng tội ác của Ông Hoàng Tứ Duy đã và đang vi phạm luật Hoa Kỳ là rất cao. Ngoài việc vi phạm luật pháp Hoa Kỳ còn là sự dối gạt những người đóng góp. Khi chính mình hành xử mờ ám thì lấy chính danh đâu để kêu gọi chế độ độc tài cộng sản ở Việt Nam minh bạch? Khi chính mình gian dối và thủ đoạn thì lấy chính danh đâu để tranh đấu cho một xã hội tử tế và trong sáng cho Việt Nam sau này?

Bản chất khủng bố – Thông cáo báo chí đề ngày 27 tháng 8 của Đảng “Việt Tân ma” để lộ bản chất khủng bố của băng đảng tội ác này, một bản chất nhất quán từ khi còn ẩn mình dưới danh xưng “Mặt Trận”. Họ cáo buộc bất kỳ ai phê phán họ hay đòi hỏi họ minh bạch là cộng sản nằm vùng hay là làm lợi cho cộng sản. Thông cáo báo chí mới đây của họ không đi ra ngoài công thức ấy:

“Trước tình trạng đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, và thường xuyên tìm mọi cách đánh phá đảng Việt Tân, mọi hành vi tiếm danh các tổ chức đấu tranh và gây hoang mang trong lực lượng dân chủ, như cá nhân Nguyễn Thanh Tú và đồng bọn đang làm, là tiếp tay giúp giải tỏa áp lực cho chế độ cộng sản Việt Nam, làm tản lực đấu tranh chung của người Việt Nam.”

Họ lại còn kêu gọi những người trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản phải có biện pháp xử trị:
“Đây là một đòn phép cũng nhằm tạo rối loạn trong các cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chúng tôi kính kêu gọi mọi Ban Chấp Hành cộng đồng, mọi cơ quan truyền thông, và mọi hội đoàn hãy cảnh giác và cô lập những kẻ phá hoại ra khỏi hàng ngũ những người mưu tìm tự do, dân chủ cho đất nước.”

Đấy là những việc làm và lời nói tương tự với những gì đã xảy ra với cha tôi trước khi bị 7 viên đạn .45 kết thúc hơi thở cuối cùng của Ông, cố ký giả Đạm Phong, một người đã cống hiến cuộc đời mình cho báo chí và sự thật.

Tôi đã làm bản tường trình với FBI và FBI đã mở hồ sơ điều tra.

Lời tự thú thứ hai – Ngay sau khi Thông Báo 18 được phổ biến, nhiều người đã liên lạc để hỏi tôi: “Thật không? Làm sao lại có thể như vậy? Làm sao họ lại có thể hoạt động trong mấy mươi năm mà không có quy chế pháp lý chính thức?” Những người trước đây ủng hộ Đảng “Việt Tân ma” tỏ ra hết sức ngỡ ngàng như bị sét đánh ngang tai. Một số người khác thì phì cười và có người buột miệng: “Áo mão chỉ đúng một bộ để diễn tuồng mà không giữ được thì còn làm trò trống gì nữa?”

Đúng vậy, băng đảng “Việt Tân ma” khoe khoang rất nhiều về thành tích, bề thế và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và với quốc tế. Họ hứa hẹn “tháo gỡ độc tài, xây dựng xã hội dân sự để đặt nền dân chủ, và vận động toàn dân để canh tân đất nước” thế mà cái việc bé tí tẹo cần phải làm để tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ, giữ lấy danh xưng, và bảo vệ cho những cộng sự viên thì vẫn không làm được: đăng ký tư cách pháp nhân và ghi danh chính thức. Trong 34 năm qua, trước luật pháp Hoa Kỳ họ chỉ là một hội đoàn không chính thức với quy mô hoạt động không quá 5000 USD một năm.

Thông cáo báo chí của Đảng “Việt Tân ma” cũng là lời tự thú rằng họ hoặc là hoàn toàn thiếu khả năng, hoặc là có ý gian để tránh né luật pháp. Có lẽ là cả hai.

Biện pháp pháp lý –  Trong thông cáo báo chí, Ông Hoàng Tứ Duy hăm he “sẽ tận dụng mọi biện pháp pháp lý tại Hoa Kỳ”. Tôi chưa biết là mọi biện pháp pháp lý ấy là những gì và dựa vào căn cứ nào. Không lẽ một tổ chức hoạt động theo dạng hội thân hữu không tư cách pháp nhân, không chính thức ghi danh lại định đi kiện để tranh giành danh xưng của một tổ chức có tư cách pháp nhân với tiểu bang và liên bang?

Chẳng phải nói đâu xa, ngay trước mắt Ông Hoàng Tứ Duy và băng đảng tội ác của ông đã vi phạm các yêu cầu của chúng tôi:

  1. Bắt đầu từ ngày hôm nay (26 tháng 8, 2016) tuyệt đối không được dùng tên “Việt Tân” hay “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” hay “Viet Nam Reform Party” trong bất kỳ trường hợp hay hoàn cảnh nào;
  2. Trong vòng 2 tuần lễ kể từ ngày hôm nay phải gỡ bỏ trang mạng http://viettan.org và trang facebook.com/viettan;
  3. Phải xoá bỏ và ngưng xử dụng bất kỳ tài liệu nào mang các tên kể trên.  Và đó là căn cứ pháp lý để chúng tôi đưa Ông Hoàng Tứ Duy và băng đảng của ông ấy ra toà, từng người một.
  4. Ông Hoàng Tứ Duy và băng đảng của Ông ấy có thể yên tâm là sẽ nhận được văn thư từ luật sư của chúng tôi trong nay mai.


Tác giả gửi tới VA News từ Houston, Texas, USA

Lạm bàn về con đường đi tới của quốc sách tẩy não

Những người trí thức bị tẩy não quá nặng đến mức không thể giải độc được nữa thì có nhiều khả năng trở thành “trí thức lưu manh”.

Tẩy não. Nguồn: internet
Theo Nguyễn Thế Duyên bàn về “Trí thức lưu manh” ở Việt Nam Thư quán, thì đó là những nhà trí thức nói và làm những điều mà trong thâm tâm họ thừa biết là sai nhưng họ vẫn cứ nói, cứ làm. Tất nhiên, khi rao giảng những điều mà chính họ biết là sai thì không giống với những người vô học, họ tìm cách ngụy biện bằng những cụm từ thật kêu, thật triết lý, để hù dọa những người thiếu kiến thức, chẳng hạn họ nói “đó là biện chứng” hoặc “đó là tất yếu lịch sử”, thậm chí họ còn có thể xuyên tạc sự thật mà mọi người trong xã hội đều biết. Vụ khai thác bôxit ở Tây Nguyên, vụ Formosa Hà Tĩnh đã cho chúng ta khá nhiều dẫn chứng về loại người này.

Thời Karl Marx viết bộ “Tư bản” ở thế kỷ thứ 19, chủ nghĩa tư bản đang trên đà phát triển mạnh, ông có nói về tầng lớp “Vô sản lưu manh” nhưng không thấy ông nói đến tầng lớp “Trí thức lưu manh”. Theo cách mô tả của Mác thì tầng lớp vô sản lưu manh là lớp người vô sản bị bần cùng hoá, vô học, không có nhân cách, đến mức họ luôn luôn tin rằng những lời nói và việc làm của họ là đúng, cho dù cả xã hội lên án những lời nói và việc làm của họ.

So với vô sản lưu manh thì trí thức lưu manh khác nhau về điều kiện xuất thân. Vô sản lưu manh xuất hiện từ những người vô sản bị bần cùng hóa và vô học, còn trí thức lưu manh thì ngược lại, họ không phải là lớp người bị bần cùng hóa và họ có học, thậm chí học rất nhiều, lên đến tiến sĩ, giáo sư. Cả hai giống nhau ở tính cách là nói và làm những điều mà xã hội đều lên án là sai và đều không có nhân cách hoặc không còn nhân cách, như PGS. TS Phạm Quang Long gọi là những nhà trí thức không biết đến văn hóa xấu hổ. Tuy vậy về tính cách, trí thức lưu manh có khác tính cách vô sản lưu manh ở một điều quan trọng, là trí thức lưu manh biết lời nói và việc làm của mình là sai nhưng vẫn cứ nói sai và làm sai, còn ở vô sản lưu manh thì đó có thể là do ngộ nhận.

Mác không nói đến thành phần “Trí thức lưu manh” có thể ở xã hội mà Mác sống, số người loại này không nhiều đến mức trở thành một thành phần xã hội, chỉ đến khi xuất hiện các quốc gia cộng sản dựa vào quốc sách tẩy não để thống trị xã hội và tồn tại thì mới xuất hiện thành phần “Trí thức lưu manh”.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam thường nói đến “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Vậy Hiền tài ở đâu ra? Chẳng phải Hiền tài từ tầng lớp trí thức mà ra hay sao? Nhưng một khi tầng lớp trí thức đã bị tẩy não đến mức trở thành “trí thức lưu manh”, nói và làm những điều mà chính họ biết là sai thì khi họ được giao phó những chức vụ soạn thảo kế sách quốc gia, chúng ta liệu có thể tin tưởng vào những chính sách của quốc gia do họ thiết kế hay không? Có lẽ đến nay các nhà cầm quyền từ trung ương đến địa phương ở Việt Nam đã thấm đòn về hậu quả này. Khi tầng lớp trí thức bị tẩy não, bị lưu manh hóa thì có thể tìm “Nguyên khí quốc gia” ở đâu và đất nước sẽ đi về đâu trong thế kỷ 21 là thế kỷ kinh tế trí thức này?

Lưu Trọng Nghĩa
Ba Sàm

Độc lập là độc lập nào?

Hồ Chí Minh bắt tay Marius Moutet sau khi ký tạm ước Việt – Pháp ngày 14/9/1946 ở Hội nghị Fontainebleau
Việt Nam bước vào thế kỷ 20 với tư cách một xứ thuộc địa của nước Pháp.

Tư cách thuộc địa chấm dứt và Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập vào ngày 11/03/1945 khi Cựu Hoàng Bảo Đại (khi ấy là Hoàng Đế) ban hành Đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất đất nước. Trong tuyên cáo có đoạn viết : “chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này, Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập”.

Đến ngày 02/09/1945, một lần nữa sau chưa đầy sáu tháng, Ông Hồ Chí Minh lại công bố bản “Tuyên ngôn độc lập” tại Quảng trường Ba Đình.

Với Cựu hoàng Bảo Đại, Ông tuyên bố độc lập để khẳng định xứ sở đã thoát khỏi thân phận thuộc địa. Nhưng với Ông Hồ Chí Minh, Ông cũng tuyên bố độc lập để khẳng định đưa xứ sở thoát khỏi điều gì ?

Trở lại bối cảnh xứ sở khi ấy, “mẫu quốc” là nước Pháp thì đã không còn quyền lực hoặc vai trò ở Việt Nam sau khi bị Nhật Bản đảo chính ở từ đầu tháng 03/1945. Bản thân Nhật Bản thì tuyên bố đầu hàng đồng minh từ ngày 15/08/1945. Thời điểm ngày 02/09/1945, đất nước đang độc lập trong thực tế lẫn pháp lý, không nằm dưới sự thống trị của ngoại bang, thì chẳng lẽ, Ông Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập để khẳng định đưa xứ sở thoát khỏi thoát khỏi nền độc lập mà cựu hoàng Bảo Đại đã tuyên bố trước đó sáu tháng ?

Chưa kể, về phương diện kế thừa nhà nước của công pháp quốc tế, thì chính quyền sau hoàn toàn thừa kế trọn vẹn những quyền và nghĩa vụ của chính quyền trước đó. Thế nên, nếu chính quyền của Cựu Hoàng Bảo Đại đã xác lập pháp lý về nền độc lập cho quốc gia, thì chính quyền của Ông Hồ Chí Minh sau đó mặc nhiên kế thừa tính pháp lý của nền độc lập đó, sự kế thừa không ít hơn và cũng không nhiều hơn.

Việc một quốc gia hai lần tuyên bố độc lập trong khoảng thời gian chưa đầy sáu tháng là tiền lệ chưa từng có trên thế giới, nhất là khi nền độc lập được tuyên bố lần đần đầu vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và chưa từng bị xâm phạm hay được phục hồi sau khi bị xân phạm !

Nói khác, Ông Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập trong hoàn cảnh thực tế của đất nước đang độc lập và đã từng được chính quyền tuyên bố khẳng định bằng một văn bản pháp lý trước đó chưa đầy sáu tháng.

Sau khi Cựu Hoàng Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, chấm dứt chính thể quân chủ, thì ngày 02/09/1945, khi công bố bản Tuyên ngôn độc lập, thì bên cạnh việc tuyên bố độc lập vốn không cần thiết, thì mặt khác, Ông Hồ Chí Minh cũng tuyên bố thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa. Và chính đây mới là nội dung quan trọng có giá trị lịch sử đặc biệt sau hàng nghìn năm xứ sở sống dưới chính thể quân chủ tập quyền. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập quốc, người dân đã trở thành chủ nhân của đất nước thay vì là một ông vua cho rằng mình là thiên tử, tức con trời “thế thiên hành đạo”.

Ngạn ngữ phương tây có câu “Cái gì của Xê-Da thì trả lại cho Xê-Da”, cũng như thế, chúng ta phải trả lại sự thật vốn có của lịch sử. Không nhất thiết rằng sau “cướp chính quyền”, thì tất cả đều có thể là thành quả của vụ “cướp”, kể cả sự thật lịch sử cũng sẽ bị “cướp” bằng sự mạo nhận, rằng theo đó :

– Nền độc lập hợp pháp hiện nay của xứ sở phải được tính từ ngày 11/03/1945 theo Đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập” do Cựu Hoàng Bảo Đại ban hành dưới chính thể quân chủ.

– Chính thể dân chủ cộng hòa hợp pháp của xứ sở phải được tính từ ngày thiết lập nên quốc hội đầu tiên thông qua bầu cử tự do, ngày 06/01/1946.

– Còn lại, ngày 02/09/1945 nên mang giá trị kỷ niệm ngày công bố ý định thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa tại Việt Nam; Kỷ niệm ngày ra mắt quốc dân đồng bào của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (chỉ bao gồm thành viên Việt Minh) và là ngày giỗ Ông Hồ Chí Minh (nếu đúng đấy là ngày Ông đã mất !).

LS Đặng Đình Mạnh
Ba Sàm

Tóm tắt quan điểm của Mao Trạch Đông về chiến tranh Việt Nam và "Mặt trận giải phóng Miền Nam"

Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, quan điểm chính trị và quân sự của Mao Trạch Đông thay đổi nhiều lần. Từ một Mao chủ hòa sau hiệp định Geneva trở thành một Mao chủ chiến trong giai đoạn đầu của cuộc chiến vào thập niên 1960 và lần nữa trở về với Mao chủ hòa sau Thông Cáo Chung Thượng Hải ngày 27 tháng Hai 1972.


Mao và lý luận “chiến tranh giải phóng dân tộc”

Phát xuất từ quan điểm cố hữu “lấy nông thôn bao vây thành thị” và cũng vì không đủ khả năng để trực tiếp đương đầu với Mỹ, Mao chủ trương gây khó khăn cho Mỹ, kẻ thù chính của Trung Cộng trong giai đoạn từ 1949 đến 1972, qua hình thức chiến tranh cách mạng tại bất cứ quốc gia nào Mỹ đang có quyền lợi hay có thể tạo ảnh hưởng.

Trong dịp tiếp phái đoàn báo chí Chile ngày 23 tháng Sáu 1964, Mao tuyên bố: “Chúng tôi chống chiến tranh, nhưng chúng tôi ủng hộ các cuộc chiến chống chủ nghĩa đế quốc do các dân tộc bị áp bức phát động”. Từ Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu, Mao tích cực yểm trợ võ khí và cơ sở lý luận cho các phong trào “giải phóng dân tộc”, chống “đế quốc thực dân”. Các phong trào Maoist lan rộng khắp nơi, từ Nepal bên rặng Hy Mã Lạp Sơn ở Á Châu cho đến tận những cánh đồng ở Ecuador, Nam Mỹ.

Trong mắt Mao, ba “anh hùng” được xem là những lãnh tụ tiêu biểu của phong trào “giải phóng dân tộc” là Hồ Chí Minh tại Á Châu, Fidel Castro tại Nam Mỹ, và Ben Bella tại Phi Châu. Trong số ba “anh hùng” đó, Hồ Chí Minh và đảng CSVN vì lý do ý thức hệ và địa lý chính trị, được Mao quan tâm nhất và bằng mọi giá phải nắm chặt trong tay.

Khi phong trào giải thực bước vào giai đoạn chót vào cuối thập niên 1960, hầu hết các nước thuộc địa đã được trao trả quyền độc lập hoàn toàn hay độc lập trong khuôn khổ thịnh vượng chung. Hai trong số ba nước tiên phong gồm Algeria và Cuba nghiêng về phía Liên Xô, Mao chỉ còn lại một đàn em trung thành duy nhất ở Á Châu là CS Bắc Việt. Mao tìm mọi cách để kiểm soát CSVN về mọi mặt từ giáo dục tuyên truyền, đường lối lãnh đạo cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội.

Mao và quan điểm về chiến tranh Việt Nam

Sau hiệp định Geneva 1954 đến 1964: Trung Cộng là nguồn cung cấp duy nhất cho CS Bắc Việt, không chỉ từ chén cơm manh áo mà cả lý luận tư tưởng. Nói chung đời sống từ vật chất đến tinh thần của đảng CSVN lệ thuộc sâu xa vào đảng CSTQ. Khắp miền Bắc, từ công sở đến gia đình, hình ảnh của Mao được đặt trên mức linh thiêng.

Hồ Chí Minh và lãnh đạo CSVN đã thi hành một cách nghiêm chỉnh hầu hết các mệnh lệnh đầy tai họa từ Mao và các chính sách phi nhân này đã dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam vô tội qua các chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất.

Sau tổn thất nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, Mao có ý định tập trung vào các chính sách đối nội, và cũng muốn CSVN đặt thứ tự ưu tiên vào việc CS hóa xã hội miền Bắc trước. Tuy nhiên, để đồng thuận với đảng CSVN anh em, Mao cũng đã tích cực yểm trợ quân sự trong chủ trương CS hóa Việt Nam bằng võ lực. Tổng số viện trợ quân sự của Trung Cộng trong giai đoạn này gồm 320 triệu yuan, 270 ngàn súng ngắn, 10 ngàn pháo, 200 triệu viên đạn, 2.02 triệu đạn pháo, 1 ngàn xe tải, 25 máy bay, 1.18 triệu bộ quân phục.

– 1964 đến 1965: Thái độ của Mao đối với chiến tranh trở nên kiên quyết hơn. Cuối năm 1964, Hồ Chí Minh chủ trương cân bằng ảnh hưởng giữa Liên Xô và Trung Cộng mong nhận được viện trợ của cả hai để theo đuổi mục tiêu CS hóa toàn cõi Việt Nam. Điều này làm Mao lo lắng. Mao sai Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng Bí Thư đảng CSTQ, bí mật thăm Hà Nội và hứa viện trợ Hà Nội một tỉ yuan nếu Hà Nội từ chối viện trợ của Liên Xô.

Ngoài ra, Mao cũng cứng rắn chống lại mọi sáng kiến chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng phương tiện đàm phán. Mao nói thẳng với Kosygin, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Liên Xô, trong chuyến viếng thăm của ông ta tới Bắc Kinh ngày 11 tháng Hai, 1965, “Liên Xô không được dùng Việt Nam để mặc cả với Mỹ”. Mao cũng từ chối đề nghị của Liên Xô về một phiên họp thượng đỉnh giữa ba đảng CS để thảo luận về đường lối chiến tranh Việt Nam. Mao xem đảng CSVN chẳng khác gì một xứ bộ của đảng CSTQ.

– 1965 đến 1972: Khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ, Lê Duẩn, trưởng phái đoàn đại diện đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Trung Cộng tháng Tư 1965, đã chính thức yêu cầu Mao gởi quân sang Việt Nam. Đáp lại lời thỉnh cầu của Lê Duẩn, Mao gia tăng hàng loạt viện trợ quân sự cho CS Bắc Việt. Tháng Sáu 1965, các sư đoàn Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam. Đến tháng Ba 1968, tổng số quân Trung Cộng có mặt tại miền Bắc là 320 ngàn quân với tất cả phương tiện yểm trợ và trang bị vũ khí đầy đủ.

Các cuộc dội bom ồ ạt của Mỹ lên miền Bắc gây tổn hại trầm trọng trong mọi lãnh vực kinh tế, quốc phòng của CS Bắc Việt. Cùng lúc đó, Liên Xô, các nước CS Đông Âu, và đồng minh của Mỹ Tây Âu khuyến khích CS Bắc Việt và Mỹ ngồi vào bàn hội nghị để tìm cách giải quyết chiến tranh Việt Nam. CS Bắc Việt đồng ý.

Chủ trương của lãnh đạo CS Bắc Việt lúc đó là vừa đánh vừa đàm để tận dụng mọi cơ hội có lợi nhất cho mục đích tối hậu CS hóa Việt Nam và đồng thời dùng bàn hội nghị để mặc cả Mỹ giảm mức độ ném bom. Ngoài ra, Hồ Chí Minh lo ngại Mỹ sẽ tăng cường thêm 100 ngàn quân tại miền Nam như y đã trao đổi với Mao vào tháng Sáu 1965.

Mao thì khác. Mao chống đối phương pháp thương thuyết và chủ trương kéo dài chiến tranh càng lâu càng tốt. Chủ trương kéo dài chiến tranh của Mao phát xuất từ ba lý do: (1) Mao muốn tiếp tục làm tiêu hao khả năng của Mỹ, (2) chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Mao trong thế giới thứ ba, (3) dùng chiêu bài chống đế quốc xâm lược để củng cố vai trò cai trị của Mao tại lục địa Trung Quốc.

– Thông Cáo Chung Thượng Hải 1972 đến 30-4-1975: Quan hệ giữa Trung Cộng và Liên Xô ngày càng xấu và khó có cơ hội hòa giải giữa hai nước CS hàng đầu. Chỉ riêng năm 1969, đã có tới 400 vụ đụng độ dọc biên giới. Đáp lại ý định rút lui khỏi Việt Nam của TT Richard Nixon, Mao nghĩ đã đến lúc phải bắt tay với Mỹ để tránh bị bao vây cả hai mặt bằng hai kẻ thù mạnh nhất nhì trên thế giới.

Sau chuyến viếng thăm Trung Cộng của TT Richard Nixon cuối tháng Hai 1972, tới phiên Mao cổ võ một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến Việt Nam mà trước đó không lâu ông ta đã chống lại.

Mao và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”

Hôm nay cả thế giới đều biết những tổ chức được gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” hay “Chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đều chỉ là các bộ phận thuộc đảng bộ miền Nam do Trung Ương Cục Miền Nam, tên mới của Xứ ủy Nam Bộ đảng Lao Động, lãnh đạo.

Tổ chức gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (MTDTGPMNVN) hay thường được gọi tắt là “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” được thành lập ngày 20 tháng 12, 1960 với mục đích: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới.”

Bí thư Trung Ương Cục đầu tiên là Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ chính tri đảng Lao Động Việt Nam. Tháng 10 năm 1964, nhu cầu quân sự gia tăng, Nguyễn Chí Thanh được điều vào Nam làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Quân ủy Miền.

Từ 1967 đến 1975, Trung ương Cục miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Phạm Hùng, Ủy viên Bộ chính trị kiêm Chính ủy các lực lượng vũ trang miền Nam. Đầu năm 1961, “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam” cũng được Trung Ương Cục Miền Nam thành lập. Dù chỉ trên danh nghĩa, “quân giải phóng” này lẽ ra phải trực thuôc “MTDTGPMNVN”, tuy nhiên, theo nội dung chỉ thị của Tổng Quân ủy CSVN tháng 1 năm 1961 nhấn mạnh: “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo“.

Đáp ứng nhu cầu tạo thế đối trọng với chính phủ VNCH, ngày 8 tháng 6, 1969, Trung Ương Cục thành lập thêm một tổ chức mới gọi là “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do Huỳnh Tấn Phát, đảng viên CS từ thời 1945 làm Chủ tịch và Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Ngoại Giao.

Nhân dịp đánh dấu 40 năm hiệp định Paris, các cơ quan tuyên truyền của đảng ca ngợi bà Bình là “nhà ngoại giao sáng tạo linh hoạt”. Điều đó không đúng. Về nguyên tắc lãnh đạo, vai trò của “Chính phủ Lâm thời” trong đó có “Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thị Bình” chỉ là mặt nổi đối ngoại, tất cả lời ăn tiếng nói của bà đều được chỉ thị từ đảng ủy bên trong, đứng đầu là Lê Đức Thọ. Chắc bà Bình cũng phải thừa nhận, dưới sự lãnh đạo của đảng CS, mọi “sáng tạo linh hoạt” cá nhân là những điều cấm kỵ.

Dù sao, trước 1975, nhờ che đậy dưới mục đích rất nhân bản và lương thiện “dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập”, “MTDTGPMNVN” đã thu hút khá đông “trí thức” miền Nam về phía họ và nhanh chóng làm suy yếu cơ chế chính trị dân chủ còn rất non trẻ ở miền Nam.

– Mao ve vãn các lãnh đạo “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam”: Không ai hiểu con bằng cha mẹ, tác giả của sách vở mà CSVN dùng là của Mao và đường lối CSVN dùng cũng là của Mao đã từng áp dụng tại Trung Quốc như trường hợp Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, gọi tắt là Chính Hiệp sau 1949. Chủ tịch của các Hiệp Chính này không ai khác hơn là những lãnh đạo tối cao của đảng. Mao Trạch Đông chủ tịch khóa I (1949 – 1954), Chu Ân Lai chủ tịch các khóa II, III, IV (1954 – 1976), Đặng Tiểu Bình chủ tịch khóa V (1978 -1983) Đặng Dĩnh Siêu chủ tịch khóa VI (1983 – 1988), Lý Tiên Niệm chủ tịch khóa VII (1988 – 1992) v.v…

Qua kinh nghiệm lãnh đạo Chính Hiệp tại Trung Quốc, Mao biết dù sao vẫn còn tồn tại một thành phần ngây thơ trong hàng ngũ “MTDTGPMNVN” nên sau Thông Cáo Chung Thượng Hải, Mao tìm cách khai thác và ve vãn hàng ngũ này. Điều Mao dự đoán không sai nhưng không đủ thế và lực để tạo ra ảnh hưởng lớn. Sau 1975 các thành phần ngây thơ này tập trung dưới hình thức Câu Lạc Bộ Kháng Chiến và nhiều trong số họ đã bị bắt.

Mao tiếp Nguyễn Thị Bình tại Bắc Kinh ngày 29 tháng Hai 1972 và nói với bà Bình “Chúng ta thuộc vào một gia đình. Bắc Việt, Nam Việt, Đông Dương, Triều Tiên cùng một gia đình và chúng ta ủng hộ lẫn nhau. Nếu các bạn thành công tại hội nghị Paris, không chỉ Nam Việt mà Bắc Việt cũng đạt đến mức bình thường hóa với Mỹ ở mức độ nào đó”.

Tháng 11, 1973, Nguyễn Hữu Thọ và phái đoàn MTDTGPMNVN thăm Bắc Kinh. Phái đoàn của y được Mao tiếp đón nồng nhiệt và hứa các khoản viện trợ không hoàn trả. Các thành viên trong phái đoàn MTDTGPMNVN ngạc nhiên trước cách đối xử khác biệt của Mao. Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp của “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, kể lại trong vài ngày đầu thăm viếng Bắc Kinh, các lãnh đạo Bắc Kinh tưởng Trương Như Tảng là người của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nên tỏ ra lạnh nhạt, nhưng khi biết y là thành phần của phái đoàn Nguyễn Hữu Thọ, họ đã trở nên niềm nở.

– Mao và chủ trương hai nước CS Việt Nam: Chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan, hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sau khi đơn gia nhập của Nam Hàn bị bác bỏ tuần trước đó.

Với lãnh đạo CSVN, việc hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”. Về mặt lãnh đạo, chỉ do một đảng CSVN mà thôi.

Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô trong lãnh đạo CSVN và hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN cũng chỉ là hành động “còn nước còn tát”.

Bắt được ý định đó, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Đông Nam Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ. Trung Cộng không chấp nhận. Mao, vào thời gian đó, sức khỏe yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ.

Mao và lãnh đạo Trung Cộng khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ phủ quyết CS Bắc Việt và CS Nam Việt.

Tìm hiểu quan điểm của Mao qua các giai đoạn của cuộc chiến để thấy phía sau những khẩu hiệu tuyên truyền đường mật, dã tâm của Mao vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách. Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập.

Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu.

CSVN ngày nay không còn chọn lựa nào khác hơn là quy phục Trung Cộng để tiếp tục tồn tại và duy trì quyền cai trị đất nước. Chọn lựa duy nhất của các tầng lớp người Việt Nam yêu nước hiện nay là đóng góp hết sức mình vào cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam. Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất. Mục tiêu đầu tiên trong tiến trình dân chủ hóa là tháo gỡ cho được cơ chế chính trị xã hội độc tài CS hiện nay.

FB Trần Trung Đạo
Tham khảo

– Discussion between Mao Zedong and Nguyen Thi Binh. December 29, 1972. Wilson Center.
– Rosemary Foot, John Gaddis, Andrew Hurrell (2002). Order and Justice in International Relations. Oxford.
– Yang Kuisong (2002). Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973. Woodrow Wilson International Center for Scholars.
– Qiang Zhai (2002). China & The Vietnam Wars, 1950-1975. University of North Carolina Press.
– Eric J Ladley (2007) Balancing Act: How Nixon Went to China and Remained a Conservative. iUniverse.
– Trương Quảng Hoa. Hồi kí cố vấn Trung Quốc. Diendan.org.
– New York Times, August 7, 1975 – New York Times, August 12, 1975
– Trần Gia Phụng (2016). Lịch Sử Sẽ Phán Xét, Nhà xuất bản Non Nuoc, Toronto, Canada.

– Chen Jian (1995), China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Cambridge University Press.

Quan trường và chuyện “nằm gai, nếm mật”

Đăng bởi Thùy Trâm vào Thứ Tư, ngày 31 tháng 8 năm 2016 | 31.8.16

Quan trường và chuyện “nằm gai, nếm mật” - Biệt thự được cho là rộng 30.000m2 của ông Trần Văn Truyền tại Sơn Đông (Bến Tre). Ảnh: internet
Hôm rồi báo chí đưa tin ông Trần Khiêu, nguyên Chủ tịch tỉnh Trà Vinh, vừa về hưu, đầu tư ngay cho con bồ một quán nhậụ hoành tráng hết 15 tỷ đồng. Lộ ra là bồ vì ngày xưa, cô này chỉ là phó phòng nhưng có lần (khi ông này còn đương chức), cãi nhau cái gì, bà này điên lên, vác gạch đá choảng, đập tan nát kính xe ô tô ông đi, đánh gây thương tích công an gác cổng Uỷ ban tỉnh… Ở thế mà cũng chẳng sao!

Báo chí ban đầu hỏi: Có tin anh với bà L… thế này, thế kia, có nhầm lẫn gì không, cha này chẳng ngại ngần gì nói: “Mày đăng đi… Nhầm mẹ gì !”. Hết biết.

Mình cũng có quen vài ông làm Thứ trưởng, Cục trưởng vài bộ. Ngày xưa công nhận các ông khổ thật, có ông Cục trưởng Cục nổi tiếng kiếm ra nhiều tiền nhất của Bộ, đến cơ quan thì đi xe máy, trông cũng khắc khổ…

Có lần sang, thấy ông ho lụ khụ, nhân viên vào hỏi: Anh uống thuốc em pha…Mình ngu thật vì có lúc nghĩ, trong vô số quan chức Nhà nước, cũng có vài ông khổ sở, vất vả, chẳng sung sướng gì như ông này.

Vừa về hưu 2-3 tháng, đã thấy anh mời mấy anh em báo chí thân đến tân gia căn biệt thự hoành tráng, anh khoe mua hết nhiều chục tỷ đồng ngay trung tâm Hà Nội. Cả bọn choáng vì trước đó, ngay sau khi rời Cục, vài tuần sau đã thấy anh đi Bentley, trông phong cách khác hẳn xưa.

Dạo trước ông Đào Văn Hưng, nguyên Chủ tịch EVN chẳng thế à? Thời đương chức thì cũng bình thường như các Chủ tịch, TGĐ tập đoàn khác thôi. Sau khi vụ EVN Telecom phá sản, hàng chục ngàn tỷ đồng đi tiêu, cả vạn người thất nghiệp, Công ty phải sáp nhập vào Viettel thì ông chỉ bị điều về Bộ Công Thương ngồi chơi…

Bây giờ thì người ta vẫn thấy ngày ngay, ông đóng bộ đồ thể thao trắng muốt, đi Audi A7 đi khắp nơi “cuốc đất”. Khoe với phóng viên quen, ông bảo: “Dạo này tinh thần mình thoải mái lắm”. Công nhận, ông Hưng trẻ ra đến cả chục tuổi so với thời làm Chủ tịch EVN.

Cũng có ông Thứ trưởng Bộ Công Thương về hưu được vài tháng, bỏ vợ cũ, tậu ngay vợ mới, tuổi chỉ đôi mươi, trẻ hơn con mình.

(cho nên, nhiều bà vợ các ông tai to, nên nhìn vào đây để rút kinh nghiệm xiềng xích cho thật chặt, tài sản phải chung tên không nó nghỉ hưu là một phát ra đường, chẳng tình nghĩa mẹ gì cả đâu)

Mới nhất là Giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa Hoàng Sỹ Bình vừa nghỉ hưu, đã động thổ xây dựng một biệt thự khủng tại vị trí đắc đắc địa có tới 3 mặt tiền trị giá người ta ước tính cũng vài chục tỷ.

Tiền ở đâu? Nếu cứ tính bèo nhất 100 triệu/suất chạy biên chế, cuối nhiệm kỳ ông này, ông ký tuyển một lúc 3.721 vào ngành, nhân lên đã xây được vô khối biệt thự chứ không phải một. Mà đây chỉ là một việc thôi trong bao nhiêu năm ông làm quan thôi.

Thế mới thấy, quan chức nước mình khổ thật. Suốt đời làm lụng khổ sở, “nếm mật nằm gai” đến lúc về già, nghỉ hưu rồi mới dám mở mặt ra với đời… Tất nhiên, nhiều ông khi đương chức, ông nào chẳng có cách tận hưởng cuộc sống theo cách của riêng mình nhưng thường là rất kín đáo.

Nói đến đây tự nhiên lại thương cho …Trịnh Xuân Thanh:))))

Thanh Giới chẳng phải chết vì không biết “nằm gai nếm mật” hay sao ? Về tỉnh, tỉnh bố trí xe cùi, ngồi khổ không chịu được, phải điều xe 4-5 tỷ từ Hà Nội vào đi cho êm ái. Thỉnh thoảng hô hào đàn em, bạn bè rồng rắn từ Hà Nội, Sài Gòn vào đi quậy phá cho vui … Đi đâu cũng chém gió, thể hiện mình là đẳng cấp, giàu có. Chẳng lạ khi gã còn có tên là “Thanh loe”.

Bởi thế nên chuyện “quan trên trông xuống, người ta trông vào”… nghĩa lộ hết mọi chuyện, ảnh hưởng đến bao nhiêu “ông anh” khác đã đành mà coi như tự đào huyệt chôn mình… Đến giờ ai cũng chửi.

Nhưng đó rõ là một tấm gương về việc muốn làm chính trị mà không biết “nếm mật nằm gai”. Từ rày, các ông nào muốn leo cao, chui sâu, bài học Trịnh Xuân Thanh phải nằm lòng, không sớm muộn cũng đi vào vết xe đổ đó thôi.

FB Mạnh Quân

Bao giờ biển có thể sạch như trước?

Bãi biển Phan Rang hôm 17/6/2015. 



Khi nào vùng biển tại khu vực 4 tỉnh miền trung Việt Nam bị hóa chất độc hại của công ty gang thép Formosa thải ra làm ô nhiễm sẽ trở lại sạch như xưa?

Đây là câu hỏi lớn tiếp tục được nêu ra dù rằng cơ quan chức năng Việt Nam vào ngày 22 tháng 8 vừa qua công bố nước biển vùng ô nhiễm nay cơ bản đã sạch.

Giới khoa học trả lời ra sao cho câu hỏi mà nhiều người, nhất là dân trong vùng chịu tác động, vẫn nêu ra hằng ngày kể từ khi thảm họa giáng xuống họ từ đầu tháng tư cho đến nay?

Chờ biển tự làm sạch

Thông tin về thảm họa môi trường bởi hóa chất độc mà Formosa thải ra biển gồm kim loại nặng, cyanur, phenol… kể từ đầu tháng tư vừa qua được truyền thông loan đi là gần 100 tấn cá, hải sản đủ loại tấp vào dải bờ biển hơn 200 kilomet thuộc 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên- Huế.

Ngư dân lặn xuống đáy biển thấy cơ man nào là hải sản chết cũng như san hô bị chết trắng.

Chính phủ Hà Nội giao nhiệm vụ cho Hội đồng Khoa học mà theo từ của Bộ Tài nguyên- Môi trường là huy động được một đội ngũ chuyên gia hùng hậu; rồi mời cả chuyên gia nước ngoài cùng tham dự để xem xét, phân tích mức độ, qui mô ô nhiễm.

Sau gần 5 tháng, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên- Môi trường thì nước biển tại 4 tỉnh nay cơ bản đã an toàn.

Kết luận được nêu ra trong báo cáo của Bộ Tài Nguyên- Môi trường nêu rõ ‘với sự kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải từ đất liền, và do cơ chế làm sạch tự nhiên của môi trường, hàm lượng các chất ô nhiễm từ sự cố môi trường đang có xu hướng giảm theo thời gian’.

Giáo sư- tiến sĩ Trần Tứ Hiếu, khoa Hóa, Đại học Khoa học- Tự nhiên Hà Nội, đồng ý với giải thích cho rằng môi trường tự nhiên có cơ chế tự làm sạch như trong báo cáo của Bộ Tài nguyên- Môi trường; tuy nhiên ông nói rằng quá trình đó phải rất lâu mới có thể đạt được:

  Còn số lắng xuống trầm tích thì nằm ở đó chứ đi đâu và người ta cũng chỉ nói trong trầm tích chứ có nói trong nước đâu. Bây giờ nói xử lý biển thì khó lắm, lâu lắm!

- GSTS. Trần Tứ Hiếu
“(Hóa chất) trôi đi và sóng… pha loãng dần ra chứ nếu đứng im thì còn lâu. Nhờ được phân tán đi thôi chứ đâu có ai lọc hay làm gì mà biết được.

Trong điều kiện tự nhiên nó pha loãng dần thì người ta gọi là làm sạch tự nhiên; ngoài ra nay không thải thêm ra nữa. Do đó người ta nói là nước sạch có thể tắm và nuôi hải sản được chứ người ta không nói cá ăn được. Những con cá bị nhiễm rồi mà còn nằm trong con cá đó thì vẫn ở đó, cá không chết vì nhiễm lượng ít.

Còn số lắng xuống trầm tích thì nằm ở đó chứ đi đâu và người ta cũng chỉ nói trong trầm tích chứ có nói trong nước đâu.

Bây giờ nói xử lý biển thì khó lắm, lâu lắm!”

Cần sự can thiệp của con người

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, thuộc Viện Hải Dương Nha Trang, cũng đưa ra nhận định của bản thân qua những thông tin ghi nhận được trên truyền thông chính thức của Nhà nước và cho rằng ngoài qui trình tự làm sạch của thiên nhiên, cần phải có tác động của con người thì mới có thể dọn sạch ô nhiễm:

“ Cục An toàn Thực Phẩn vẫn nói hàm lượng những chất độc hại vẫn cao hơn mức cho phép. Qua mẫu cá do dân đánh bắt được về qua xét nghiện vẫn thấy cyanur, phenol vẫn cao. Ở một số nơi mức kim loại nặng vẫn cao hơn mức cho phép. Nên Cục An toàn Thực phẩm vẫn nói chưa đạt chuẩn an toàn về thực phẩm.

Hàm lượng mà những hải sản này nhiễm chưa đủ gây chết chúng nhưng vẫn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Hải sản đánh bắt về không bán được và nhất là số mua đông lạnh nay không ai mua.

Tôi thấy tại những bãi ngang người dân vẫn chưa nuôi. Chuyện làm sạch môi trường cần phải theo dõi, kiểm soát, quan trắc thường xuyên xem mức độ biến động ra làm sao.”

Sự lên tiếng mạnh mẽ về môi trường của thủ tướng

Sau thảm họa môi trường do công ty gang thép Formosa Hà Tĩnh, gây nên, chính phủ Việt Nam tỏ ra cứng rắn hơn khi lên tiếng tại những cuộc họp về môi trường.

Vào ngày 24 tháng 8, ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói rằng nay không thể vì lợi ích kinh tế trước mắt mà hy sinh môi trường và cuộc sống bình yên của người dân. Những đơn vị nào gây ô nhiễm môi trường cần bị đóng cửa.

Khi đến dự hội nghị xúc tiến đầu tư tại tỉnh ven biển khu vực nam Trung bộ là Ninh Thuận, ông này cũng lặp lại và phải tiến hành qui hoạch khu vực bờ biển cho đồng bộ, không để tình trạng băm nát, chia lô bán nền dọc bãi biển.

Tuy nhiên cũng tại Ninh Thuận, cơ quan chức năng Việt Nam mà cụ thể là một lãnh đạo vụ chuyên môn của Bộ Công Thương xác nhận dự án khu liên hợp luyện cán thép do Tập đoàn Tôn Hoa Sen đề xuất tại Cà Ná tỉnh Ninh Thuận đã được chấp nhận chủ trương đầu tư. Bộ này đang tiến hành bổ sung dự án vào qui hoạch và hoàn thiện trong tuần lễ qua.

Đây được nói là siêu dự án với số vốn đầu tư hơn 10 tỷ đô la Mỹ, công suất được nói là 16 triệu tấn/năm.

Thông tin còn cho biết thêm là khu liên hợp luyện cán thép Cà Ná theo kế hoạch dự tính sẽ được tiến hành theo nhiều giai đoạn cho đến năm 2025-2030.

Công nghệ được sử dụng là công nghệ lò cao mà vị chủ tịch Hiệp hội Thép hiện nay, ông Phạm Chí Cường cho rằng đối với dạng công nghệ này không chỉ phải kiểm soát xả thải ra môi trường giống như nhà máy gang thép Formosa Hà Tĩnh mà còn liên quan đến khí thải, hiệu ứng nhà kính…

Đối với nhà máy Formosa Hà Tĩnh sau khi gây ra thảm họa môi trường tại 4 tỉnh miền Trung như được nói đến lâu nay, vào ngày 28 tháng 6 vừa qua, phó giáo sư- tiến sĩ Trịnh Văn Tuyên, viện trưởng Viện Công nghệ- Môi trường thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu tại hội nghị do tỉnh Hà Tĩnh tổ chức rằng đã có một nhà máy luyện cốc được xây dựng và sắp tới một lò khác nữa sẽ ra đời.

Ông này cho rằng Formosa Hà Tĩnh mỗi ngày sản xuất khoảng 2 ngàn tấn cốc. Cứ mỗi tấn cốc sẽ phát ra chừng 0,6 tấn nước thải như thế cứ mỗi ngày nhà máy xả ra khoảng 1000- 1200 mét khối nước thải ô nhiễm. Nếu số nước thải này không được xử lý thì sẽ có một tấn phenol thải ra biển mỗi ngày.

Tuy nhiên phó giáo sư- tiến sĩ Trịnh Văn Tuyên cho rằng gần đây hệ thống xử lý nước thải sinh hóa của nhà máy đã gần đạt chuẩn, nên chỉ còn xả ra hơn 1 kilogram phenol.

Tin tưởng của nhà khoa học

Phó giáo sư- tiến sĩ Nguyễn Thị Huệ, phó viện trưởng Viện Công nghệ Môi trường, tỏ ra tin tưởng về sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng trong xả thải của những nhà máy như Formosa, bà n vcói:

“Do yếu tố về giám sát của Việt nam ngày càng chặt chẽ hơn tôi hy vọng nước biển ngày càng tốt hơn, chất lượng cũng tốt hơn.

Vấn đề này thực ra phải có tác động của rất nhiều yếu tố về con người, giám sát, về ý thức thải ra nước biển. Việc giám sát chất lượng nước theo tôi là nên làm và ngày càng phải có tần suất chặt chẽ hơn.

Viện chúng tôi cũng tham gia giám sát môi trường nước nói chung và cả môi trường không khí.”

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại bày tỏ sự lo lắng khi chưa thấy có biện pháp cụ thể nào được đưa ra, ngoài việc chờ cho biển tự làm sạch. Ông trình bày:

“Theo tôi bây giờ cần phải có những phương pháp làm giảm các chất độc đi vì chúng còn nằm đó thì khó lắm. Người ta nói đến việc tự làm sạch nhưng những chất như cyanur thì tự làm sạch bằng cách nào? Khó lắm.

Phải có tác động gì đó của con người chứ chúng lắng xuống dưới đáy rồi. Bộ Tài Nguyên- Môi trường nói ( chất độc) đã lắng xuống dưới đáy rồi, nằm ở đó. Hình ảnh cho thấy những lớp nhầy, huyền phù dưới đáy. Nếu có dòng chảy nào thật mạnh đưa chúng đi xa thì may ra; chứ tôi chưa thấy tác động nào của con người vào cả.

Người ta chỉ quan trắc và xem xét mức phát tán ra. Người ta cũng chờ đợi thôi chứ chưa thấy tác động nào của con người vào.

  Do yếu tố về giám sát của Việt Nam ngày càng chặt chẽ hơn tôi hy vọng nước biển ngày càng tốt hơn, chất lượng cũng tốt hơn.

- PSG TS. Nguyễn Thị Huệ
Tôi chưa hình dung ra con người phải tác động vào như thế nào; chưa biết công nghệ nào có thể giải quyết được chất độc lắng xuống dưới đáy.”

Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại thì vấn đề là một bài toán nan giải khi mà cá, hải sản tích lũy độc chất với lượng nhỏ từ từ không đến mức làm cho chúng chết ngay.

Số này được bắt lên và đưa đến những nơi khác như ngay cả thủ đô Hà Nội, nơi mà giáo sư tiến sĩ Trần Tứ Hiếu thừa nhận vẫn có người tiêu thụ cá biển mà không biết rõ xuất xứ từ đâu.

Hầu hết những người dân tại vùng ô nhiễm như Vũng Áng, Hà Tĩnh thì cho biết dứt khoát họ không hề ăn cá đánh bắt gần bờ về. Dù những bộ Tài nguyên- Môi trường, Nông nghiệp- Phát triển Nông thôn có thông báo gì họ cũng chưa thực sự tin tưởng. Theo họ nguồn xả thải đã thừa nhận hành vi thải chất độc ra biển là Formosa cần phải bị đóng cửa để dứt hẳn nguy cơ như hồi đầu tháng tư vừa qua.

Các nhà khoa học quan tâm thì tiếp tục thắc mắc tại sao số liệu phân tích từ những mẫu hải sản, nước biển, trầm tích thu được sau thảm họa môi trường đến nay vẫn không thể tiếp cận được để có thể đánh giá đúng tình hình xảy ra và góp ý những cách thức cần thiết.

Gia Minh
Theo RFA
Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe

Tải xuống

Bài đăng nổi bật

Tin Đặc Biệt: Vụ án Yên bái - các tình tiết không có trên báo đảng

Vụ án Yên bái - các tình tiết không có trên báo đảng - hai trong những tên xã hội đen tai Yên bái vẫn được Cường sử dụng     C...

Subscribe me

Chuyên Đề »

Điều 19.2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Cộng sản Việt Nam xin tham gia năm 1982:
  • “Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình”.
  • (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)ce.)

 
Top ↑ Copyright © 2011. Việt Mỹ News - All Rights Reserved
Back To Top ↑