VANEWS

GS Nguyễn Lân Dũng: Tôi nói mà không ai nghe...

Không biết bao lần tôi được nghe ông nói. Không biết bao bài báo đã phỏng vấn ông. Ông được mệnh danh là người có “nghề” trả lời phỏng vấn đặc biệt là hỏi gì đáp nấy. Không phải tất cả những điều ông nói tôi đều thích nhưng phải thừa nhận rằng những điều ông nói bao giờ cũng hấp dẫn và nó luôn ẩn chứa một thông điệp nào đó liên quan đến những vấn đề “nóng” của xã hội.

Ông được xếp vào hàng “tứ trụ” (Nhất Thước/Nhất Ngoạn – Nhì Trân – Tam Lân – Tứ Quốc) trong Quốc hội, là người không thích nói suông mà phải xắn tay vào thực hiện, đó là điều chúng tôi cảm nhận được từ con người ông. Có gần ông, nghe ông trong những lúc “trà dư tửu hậu” mới hiểu rằng những khao khát cống hiến của ông cho đời thật là ghê gớm. Và đây là một trong những lần nói chuyện như thế mà chúng tôi ghi lại được với Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng.

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng
Sách giáo khoa là linh hồn của bài giảng. Vâng, vấn đề sách giáo khoa (SGK) hiện nay phải nói là không ổn một chút nào.

Tôi đi nước nào tôi cũng mua SGK phổ thông, hiện nay tôi có chừng 70 cuốn SGK sinh học của các nước và tôi giật mình thấy SGK của nước mình không giống với SGK của bất cứ nước nào.

SGK Việt Nam dạy cái gì? Xin thưa, dạy tất cả các môn của Đại học Sư Phạm: Thực vật bậc thấp, thực vật bậc cao, động vật không xương, động vật có xương, giải phẫu người, giải phẫu động vật, sinh lý người, sinh lý động vật, sinh thái học, vi sinh học, tiến hóa, di truyền…

Trong khi đó một nước phát triển như nước Pháp, trong chương trình giáo dục học sinh phổ thông không dạy chương trình biologie, từ lớp 1 đến lớp 12 nhưng họ có môn “la science de la vie”, “science de la terre” (khoa học về sự sống, khoa học về trái đất). Như vậy thay vì họ học về dương xỉ, mộc bá, quyết… cấu tạo dây thần kinh của thằn lằn, dây thần kinh thỏ… như chúng ta thì họ dạy những khái niệm rất chung như thần kinh từ vi khuẩn đến người, dinh dưỡng từ vi khuẩn đến người… còn những thứ mình dậy là vấn đề của những nhà nghiên cứu, của trình độ đại học.

Mô hình thứ hai là mô hình giáo dục của Nepal, một nước rất nghèo, nghèo hơn cả Việt Nam, nhưng giáo dục của họ tuyệt vời. Tôi mua 2 cuốn sách giáo khoa lớp 11 và lớp 12 mỗi cuốn 700 trang. Với số lượng trang như vậy chắc học sinh của họ không cần phải học thêm gì nữa. Tại sao họ có thể dạy sinh học cho lớp 11, 12 với những cuốn sách 700 trang?

Câu trả lời cực đơn giản, nhưng tôi nói không ai nghe!

Đó là coi lớp 9 và lớp 10 là xong phổ thông. Thế hệ của tôi cũng vậy. Hai năm lớp 11 và 12 họ chia 4 phân ban: một là quản trị kinh doanh, hai là khoa học xã hội và nhân văn, ba là toán lý, bốn là hóa sinh. Và mỗi một chuyên ban lại học 4 môn. Chỉ có ban hóa sinh mới học sinh học, còn 3 ban kia chỉ cần kiến thức sinh học ở bậc phổ thông là đủ. Như vậy mới có cuốn sách giáo khoa 700 trang dành cho lớp 11 và 12. Lớp 11, 12 gần như bước đệm, dự bị đại học. Hơn nữa, không có nước nào có một bộ sách giáo khoa duy nhất như nước ta. Khi ở trong quốc hội, tôi đấu tranh chuyện này mà không thành công là bởi vì họ nghĩ một bộ SGK còn chưa ra gì huống hồ nhiều bộ.

Nhưng, chính là một bộ mới chưa ra gì vì không có cạnh tranh, còn ở các nước thì rất nhiều bộ SGK. Cũng như không có nước nào có một loại thuốc đánh răng, và đương nhiên không phải ai cũng làm được thuốc đánh răng vì nó phải có tiêu chuẩn của Bộ Y tế, cho nên phải có một chương trình chuẩn, phải dùng được lâu dài, nhiều năm chứ không phải như hiện nay.

Thế nhưng, kiến nghị của tôi cũng không ai nghe!

Xây dựng một chương trình chuẩn đâu có khó. Tôi không đồng ý với cách Nhà nước chuẩn bị đến 2015 mới bắt đầu đổi mới toàn diện chương trình giáo dục, làm thử vài năm rồi mới viết sách giáo khoa, rồi lại thử nghiệm vài năm nữa… đến lúc đó chắc thế hệ chúng tôi đã hai năm mươi rồi. Tôi cũng không hiểu tại sao không giao việc này cho các Hiệp hội chuyên ngành để chỉ cần trong một năm có thể hoàn thành Bộ Chương trình Giáo dục phổ thông trước khi đưa ra thảo luận rộng rãi, sau đó có thể thông qua tại một Hội đồng đủ quyền lực cấp Nhà nước. Hội sinh học chúng tôi sẵn sàng chỉ với điều kiện cho chúng tôi xin những chương trình dạy học của một số nước. Việc đó cực dễ hỏi Đại sứ quán nào người ta cũng có thể cho ngay.

Để cho các hội chuyên ngành tham gia viết SGK là điều nên làm, và họ sẽ mời những người dạy lâu năm cùng tham gia. Như vậy SGK phải là chuyện của các nhà khoa học hay nhóm các nhà khoa học, của các thày giáo hay nhóm thày giáo… khi đã có một chương trình chuẩn rồi. Và cuốn nào hay thì người ta dùng. Chỉ tập chung làm một việc đó thôi cũng đủ tạo ra một bứt phá rõ rệt trong sự nghiệp chấn hưng giáo dục. Một câu chuyện rất đơn giản đó nhưng…

Tôi nói cũng không ai nghe, không ai làm!

Học sinh của chúng ta đâu có kém, bằng chứng là đã có lần tôi ngạc nhiên và vô cùng phấn khởi khi dự một buổi lễ trao phần thưởng ở một trường Dược khá nổi tiếng ở bang California khi những em học sinh lên lĩnh phần thưởng đa phần là người Việt. Như vậy người Việt Nam không kém nhưng chương trình học của người Việt không tốt, SGK không tốt mà ở bậc đại học lại càng không tốt. Các trường Đại học lại mở ra quá nhiều mà không có SGK. Hiện nay nước ta có khoảng 400 trường Đại học cao đẳng, dự kiến đến năm 2020 có đến 600 trường, tôi nghĩ rằng nếu như thày không đủ trình độ để giải quyết những vấn đề của xã hội thì mở ra nhiều trường như vậy để làm gì. Ví dụ như ngành môi trường chẳng hạn. Giải quyết các vấn đề về rác thải, nước thải, ô nhiễm… đến thày các em còn chả làm được huống hồ sinh viên mới ra trường.

Môi trường chỉ là một ví dụ thôi, các ngành khác cũng vậy, phải có các thày là các nhà khoa học giỏi mới có thể đào tạo ra các chuyên gia, còn nếu các thày còn chưa đủ điều kiện để giải quyết các vấn đề của ngành đó thì có đào tạo ra một loạt cử nhân cũng chả giải quyết được gì. Chi bằng ta nên mở nhiều trường đào tạo về ngoại ngữ, vì thích học đại học là nguyện vọng chính đáng của mọi người, và thậm chí cả nước được đào tạo về ngoại ngữ cũng chả sao. Tôi quen một người bạn là người đầu tiên làm ra cái bẫy dính chuột, tôi hỏi anh lấy đâu ra công thức? Anh bảo, trên mạng internet đầy. Bây giờ cái gì đã qua thời kỳ bảo hộ tác quyền người ta đều công bố hết. Như vậy, chỉ cần biết ngoại ngữ có thể trở thành nhà kinh doanh. Thà thế còn hơn đào tạo những chuyên ngành mà cả thày và trò đều không đủ trình độ để giải quyết các vấn đề xã hội. Dẫn đến việc rất nhiều sinh viên ra trường phải đi tiếp thị mì tôm, thuốc lá, bán chè chén vỉa hè... Đấy là chuyện đau lòng.

Không có ngành công nghiệp vi sinh vật chúng ta không bứt phá lên được về kinh tế đâu! Tôi nói mà cũng không ai nghe…

Trong lĩnh vực vi sinh vật học, chúng tôi có hợp tác với Nhật bản để tìm ra các vi sinh vật mới, có một điều rất lạ là nếu như họ cần phải đi tìm một loài mới nào đó thì sẽ rất vất vả nếu họ đến các nước Châu Á song hễ cứ sang Việt Nam thì chỉ trong khoảng 2 tháng là bao giờ cũng tìm được rất nhiều loài mới… Tôi vẫn nói đùa rằng, có lẽ tại nước tôi bẩn quá chăng?

Thật ra không phải thế. Điều này xuất phát từ chỗ điều kiện khí hậu của nước ta nằm giữa khí hậu nhiệt đới với ôn đới, mặt khác nước ta lại có những khu rừng nguyên sinh mà tại đó chúng tôi chỉ cần lấy một cục đất bằng ngón tay thôi rồi cùng với những chuyên gia Nhật bản chúng tôi phân lập lựa chọn… Vậy mà tôi đã từng bị những người xấu tính vu cho là bán bí mật quốc gia, và tôi đã phải giải thích với những đồng chí lãnh đạo rằng đó chỉ là một cục đất không phải cái cây hay con vật. Nếu tôi không hợp tác thì họ cũng đút túi đem về tự làm và mình chả được gì. Chi bằng mình hợp tác cùng nghiên cứu, hai bên cùng được hưởng thành tựu từ việc tìm ra những vi sinh vật mới. Chỉ tiếc rằng mình chưa có ngành công nghiệp vi sinh vật, nên dù biết cái chủng này hay lắm, nó sinh ra chất này, chất kia, nhưng biết để đấy thôi vì… lấy đâu ra nhà máy mà sản xuất. Đất nước ta gần 90 triệu dân mà đến nay chưa sản xuất ra được một miligam kháng sinh hay vitamin nào, tất cả đều phải nhập khẩu. Điều đó thật vô lý và đáng tiếc. Trong khi đó ngành công nghiệp vi sinh vật là một ngành công nghiệp đem lại lợi nhuận cực kỳ lớn cho đất nước.

Cho đến nay, ngành công nghiệp vi sinh vật của chúng ta chỉ xoay quanh 3 lĩnh vực: Đó là bia (chúng ta xứng đáng là cường quốc Bia). Tiếp đến là bột ngọt (nhưng là toàn nằm trong tay các công ty nước ngoài, họ chỉ lấy sắn, gỉ đường của chúng ta để làm ra bột ngọt. 1 lít dịch lên men làm được 150g bột ngọt. Mỗi nồi lên men vào khoảng 1000 lít, mà mỗi nhà máy của họ có khoảng 700 nồi lên men, như vậy mỗi ngày họ làm ra biết bao nhiêu tiền). Thứ 3 là Vaccin. Đây là lĩnh vực mà chúng ta đã làm được khá nhiều việc do được Nhà nước tập trung đầu tư nghiên cứu. Việt Nam đã tự túc được khá nhiều loại vaccin, kể cả những vaccin thế hệ mới sử dụng tái tổ hợp gen. Đó là minh chứng điển hình cho khẳng định của tôi là: Nếu đầu tư nghiêm túc cho lĩnh vực vi sinh vật học thì chúng ta sẽ gặt hái được rất nhiều thành công.

Ngoài 3 lĩnh vực trên, chúng ta không phát triển thêm bất cứ sản phẩm nào từ vi sinh vật và đó là điều đáng buồn. Có những thứ rất đơn giản, rất thực tế, dễ làm mà chúng ta không làm. Tôi nói ví dụ như vấn đề số người mắc căn bệnh ung thư hiện nay của chúng ta tăng lên một cách đáng sợ. Vậy tại sao số lượng người bị ung thư lại tăng lên nhiều như vậy? Trong rất nhiều nguyên nhân có một nguyên nhân mà dường như ai cũng biết, song đành phải cố quên đi. Đó là việc chúng ta đang phải ăn rất bẩn, ăn phải rất nhiều chất gây ung thư có trên các loại rau cỏ, thực phẩm… Tôi đã từng kiến nghị với Bộ Y tế một vấn đề mà chưa được giải đáp đó là Tương.

Tương là món ăn truyền thống rất ngon, đặc biệt là Tương Bần. Tôi đã phải về tận Hưng Yên để xem người ta làm tương như thế nào và tôi thấy sợ cách làm của người dân nơi đây.

Về lý thuyết cách làm tương là ngâm gạo nấu thành xôi sau đó đổ vào nong, chờ lên nấm mốc đó chính là nấm Aspergillus Oryzae một loại nấm tốt men cao chuyển hóa bột thành đường, chuyển hóa đậu tương thành axit amin. Nhưng khi tôi nhìn vào cái nong của họ thì thấy rằng không phải chỉ có Aspergillus Oryzae mà trăm thứ bà rằn, xanh đỏ tím vàng đủ các loại nấm. Trong đó có một loại nấm có tên là Aspergillus Flavur sinh ra độc tố Aflatoxin cực nguy hiểm có thể gây tổn thương hệ thần kinh trung ương, tim, phổi và sinh ra một số chất độc hại khác. Ngay những người có chuyên môn như chúng tôi cũng không thể phân biệt được 2 loại nấm Aspergillus Oryzae và Aspergillus Flavur vì chúng rất giống nhau. Tôi có đề nghị một bà cụ, người khá nổi tiếng vì đã từng được huy chương vàng về làm tương là: cho chúng tôi làm thử một mẻ, với điều kiện là… hãy để chúng tôi giặt nong.

Bà ấy nhìn tôi từ đầu đến chân giống như người ở hành tinh khác đến. Bà nói: Chúng tôi làm tương đã mấy đời nay, và bí quyết của chúng tôi là không giặt nong, đồ xôi xong là đổ ra nong ngay.

Tôi nói với bà, điều này quá nguy hiểm và thuyết phục bà cứ cho chúng tôi giặt nong, nếu hỏng chúng tôi sẽ đền toàn bộ chi phí cho bà, cuối cùng bà cũng đồng ý. Tôi lấy ra một gói bao tử nấm Aspergillus Oryzae do chúng tôi sản xuất (có giá là 1000 đồng/gói) và nhờ bà đồ xôi rồi rắc bao tử vào. Chúng tôi để lại số điện thoại và ra về. Hai ngày sau, bà gọi điện thoại cho tôi bảo: Bác ơi, chưa lần nào mà mốc nó lại lên đều và đẹp như thế.

Tôi tin là bà nói đúng, vì chúng tôi đã cấy hàng tỉ bao tử nấm vào mà lại chỉ toàn là nấm Aspergillus Oryzae đã được kiểm nghiệm và nghiên cứu kỹ.

Qua chuyện này, tôi kiến nghị với Bộ Y tế là cho kiểm tra Aflatoxin ở các mẫu tương được bán trên thị trường. Để kiểm tra cũng rất đơn giản vì nó phát huỳnh quang khi chiều tia tử ngoại vào.

Nhưng tôi nói cũng không ai nghe, cho đến hôm nay cũng không ai làm!

Một chuyện nữa tôi thấy cũng khá hài hước. Trên TV ngày nào cũng ra rả quảng cáo các loại nước mắm không có vi khuẩn. Điều này thật buồn cười, chả có nước mắm nào có vi khuẩn vì nồng độ muối như vậy lấy đâu ra vi khuẩn. Còn nhớ đợt dịch tả năm nào cứ đổ cho thủ phạm là mắm tôm. Tôi đã nói trước Quốc hội: không phải do mắm tôm, vì với nồng độ muối của mắm tôm, không có vi khuẩn nào sống được, nhất là vi khuẩn tả là vi khuẩn không có bao tử thì chết ngay, nên không thể đổ tội cho mắm tôm được. Và kết luận phải chôn các bể mắm tôm ở các làng làm mắm tôn đã gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho người dân nhưng về mặt khoa học lại không đúng.

Tôi cũng đã từng kiến nghị với đồng chí Chủ tịch thành phố Hà Nội về vấn đề rau sạch. Một lần tôi được một đồng chí lãnh đạo của Hà Nội đưa đi thăm vùng trồng rau sạch, tôi hỏi anh căn cứ vào đâu để cho là rau này sạch. Anh bảo: Tôi đã ký hợp đồng với họ rồi, họ đã cầm bao nhiêu tiền rồi và cam kết là 5 ngày trước khi hái rau không phun thuốc…

Tôi cười bảo: Thế mà anh cũng tin được à?

Sâu chỉ trong một đêm là nó phá tan cả ruộng, họ chỉ nói vậy thôi chứ không thực hiện đâu. Một nguyên lý quá đơn giản là không có bướm thì không có sâu nên chỉ cần làm nhà lưới là giải quyết được vấn đề. Với nông dân chỉ cần trang bị đầy đủ nhà lưới, lo đầu ra cho sản phẩm và thuê họ làm với giá hợp lý là giải quyết được ngay vấn đề về rau sạch. Đấy cũng là một việc không hề khó, mà chúng ta không làm được. Ngoài cách làm này ra không thể tin được vào bất kỳ một loại rau sạch nào khác. Mọi người đừng bao giờ tin khi ra chợ các bà bán rau nói rau của họ bị sâu cắn lỗ chỗ nghĩa là không hề có thuốc sâu. Đó chẳng qua là “bài” của các tay đầu nậu, họ xui nông dân hãy để cho sâu cắn một ít rồi phun thuốc. Thậm chí có bà bán rau còn dấu một ít sâu trong túi thỉnh thoảng bắt vài con cho bò lổm ngổm trên rau…

Điều này là quá nguy hiểm mà tôi nói thì không ai nghe, và không ai làm cả…

Tại sao chúng ta không nghiên cứu những vấn đề rất cụ thể ví dụ như thuốc trừ sâu sinh học an toàn tuyệt đối với người nhưng diệt sâu rất hiệu quả. Khi trồng rau trong nhà lưới, mà có những vi khuẩn nhỏ vẫn lọt qua nhà lưới như con bọ nhện chẳng hạn, thì sẽ dùng thuốc trừ sâu sinh học.

Hay một ví dụ khác là hiện tượng ô tô, xe máy đang đi tự dưng bốc cháy gây hoang mang trong dư luận thời gian gần đây nhưng người dân không biết hỏi ai. Người thì bảo do chuột cắn, người bảo xăng có methanol, người bảo vấn đề tâm linh… và chẳng ai nghiên cứu về vấn đề này cả.

Như vậy tôi cho rằng phải có những cơ quan được giao nhiệm vụ nghiên cứu và chịu trách nhiệm trả lời về những vẫn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của mình. Phải có những phòng nghiên cứu chuyên đề cấp nhà nước. Ví dụ như về vi sinh vật, tôi xin đảm bảo, hỏi chúng tôi về vấn đề vi sinh vật học chúng tôi sẽ trả lời được. Nếu chúng tôi không trả lời được, chúng tôi sẽ hỏi bạn bè quốc tế, chúng tôi có quan hệ với tất cả các viện nghiên cứu lớn trên thế giới. Cũng tương tự như vậy đối với các lĩnh vực khác. Tôi mong muốn nhà nước phải xây dựng những lực lượng nghiên cứu chuyên nghành để giao nhiệm vụ và đề tài nghiên cứu. Không bứt phá về khoa học thì sẽ không bao giờ theo kịp các nước khác ngay cả mục tiêu cho đến năm 2020 sẽ trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại cũng là điều rất khó.

Với những ví dụ trên có thể thấy rằng không thiếu gì đề tài nghiên cứu mà chúng ta phải đổi mới hoạch định chính sách khoa học bằng cách là chỉ định thầu chứ không phải đấu thầu như hiện nay. Chúng ta phải xây dựng những lực lượng nghiên cứu để nhà nước cần việc gì, giao việc đó cho bộ phận có nghề. Còn đấu thầu hiện nay đang dàn trải lung tung và không bứt phá lên được. Nếu chúng ta sử dụng tốt 600 triệu dolla dành cho nghiên cứu khoa học (một con số rất nhỏ so với thế giới, nhưng lại là một con số rất lớn với những người làm khoa học ở Việt Nam) chúng ta giải quyết được rất nhiều việc. Sắp tới chúng đang cố gắng để lập một xưởng sản xuất các sản phẩm công nghệ cao ví dụ như cái taq polymerase là cái mà lâu nay chúng ta phải nhập để cho các máy PCR với giá rất đắt, chúng tôi đã làm thử với giá rẻ hơn Mỹ 10 lần thế mà tại sao chúng ta không làm mà phải đi mua do đó chúng tôi sẽ cố gắng làm ra những sản phẩm công nghệ cao để nuôi nhau. Và tôi nói thật, tôi rất tiếc, lẽ ra Nhà nước phải giúp chúng tôi vì đó là mô hình rất hay. Các nhà khoa học không cần tăng lương, mà chúng tôi biết cũng không thể tăng lương được (hiện nay gần 9 triệu người ăn lương thì làm sao mà chúng tôi hy vọng được tăng lương)… Nhưng, ngay cả điều này tôi cũng đã kiến nghị mà… không ai đầu tư cả!

Lê Trang
Theo VTC

Vụ Trang Trần: Có một con voi trong phòng…

Trong tiếng Anh, có thành ngữ “elephant in the room”, hoặc “elephant in the living room”, dịch sát nghĩa là “có một con voi trong phòng (khách)”. Thành ngữ này chỉ một sự thật hiển nhiên, rõ ràng, mọi người đều biết, nhưng ai nấy đều lờ đi, không đả động đến vì ngại, vì sợ hoặc vì kiêng kỵ gì đó.

Để minh họa, có thể lấy ví dụ là vụ người mẫu Trang Trần bị CA phường Hàng Buồm bắt khẩn cấp và khởi tố về tội chống người thi hành công vụ. Ngay sau khi clip “Trang Trần chửi công an” bị tung lên mạng và nhân vật chính bị bắt giữ, cộng đồng mạng Việt Nam nổi sóng tranh cãi. Người phê phán Trang Trần vô văn hóa; kẻ khen cô trung thực, sống thật với lòng mình. Người phân tích luật pháp để thấy bắt Trang Trần là đúng (hoặc sai), kẻ lại chỉ trích “bọn dân chủ” cơ hội, tranh thủ vụ Trang Trần để xả cái sự căm ghét công an và cảm giác hả hê khi công an bị chửi tận mặt, v.v.

Nhưng đa số đều vô tình hoặc chủ ý khéo léo lờ đi một “con voi trong phòng khách”. Con voi ấy là gì vậy? Xin đăng tải dưới đây một số ít ý kiến đề cập đến nó.

1. Luật gia Trịnh Hữu Long:

Mọi người đều đồng ý với nhau rằng mọi quyền tự do đều cần có giới hạn. Lý do của việc đặt ra giới hạn là để đảm bảo quyền tự do của người khác và lợi ích chung của xã hội. Mỗi người cần bớt một chút tự do của mình để góp vào cái tự do chung của xã hội. Vấn đề là cái giới hạn ấy nằm ở đâu, và cái "một chút tự do" ấy là bao nhiêu. Đến đây thì bắt đầu cãi nhau không có hồi kết. Định lượng là một công việc không đơn giản, nhất là trong những xã hội đông dân và đa dạng về thành phần.

Vụ việc của Trang Trần, tuy nhỏ, và yếu tố duy nhất khiến nó ồn ào là cái danh hiệu siêu mẫu của cô, lại thể hiện đầy đủ những đặc trưng văn hóa pháp lý Việt Nam. Luật Việt Nam đã đúng khi quy định về hành vi chống người thi hành công vụ, cũng đúng khi quy định cả hai mức trừng phạt nặng nhẹ khác nhau là hành chính và hình sự. Nhưng vấn đề ở đây là “như thế nào là chống người thi hành công vụ” và ranh giới giữa mức hành chính và hình sự nằm ở đâu? Xác định được hai điều này cũng có nghĩa là xác định được ranh giới tự do của con người.

Các xã hội thiết lập những cơ chế riêng để đi tìm cái ranh giới đó. Cơ chế của hệ thống án lệ (Anh, Mỹ, Úc) thì thiên về việc trao cho các thẩm phán quyền giải thích Hiến pháp và thiết lập các giới hạn. Cơ chế của hệ thống dân luật (Pháp, Đức, Nhật) thì thiên về sử dụng các văn bản pháp luật do lập pháp và hành pháp đặt ra. Hai hệ thống này tỏ ra vượt trội và trên thực tế nó đã tạo ra các xã hội thịnh vượng nhất trên hành tinh.

Điều tiên quyết để hai hệ thống trên vận hành được là cấu trúc nhà nước tam quyền phân lập và dựa trên nền tảng chính trị dân chủ. Hai yếu tố này giúp cho các cơ quan nhà nước được đặt trong tình trạng bị kiểm soát liên tục và buộc phải lựa chọn những giải pháp tốt nhất có thể, đồng nghĩa với việc họ sẽ tìm mọi cách để xác định đúng cái giới hạn tự do của con người. Dù có thể các mô hình đó còn khiếm khuyết và chưa tìm được cái cần tìm, cỗ máy đó vẫn vận hành và ngày càng tiến gần đến cái giới hạn hợp lý hơn.

Còn ở những xã hội chỉ có một đảng cầm quyền như Việt Nam, về cơ bản là không có cỗ máy đó, nỗ lực tìm kiếm cái giới hạn hợp lý là vô vọng. Hệ thống pháp luật và nhà nước Việt Nam có cái vỏ của hệ thống dân luật Pháp, nhưng thiếu hẳn hai yếu tố tam quyền phân lập và nền tảng chính trị dân chủ. Bản thân Việt Nam cũng không nhận mình thuộc về hệ thống dân luật Pháp, mà tự gọi là mô hình nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Mô hình này trao quyền quyết định cho Đảng cộng sản Việt Nam, với quyền năng tuyệt đối và không bị ai giám sát. Với địa vị đó, cái ranh giới tự do của con người luôn bị đẩy về phía người dân và mở rộng tối đa không gian tự do của đảng cầm quyền. Vì thế, trong cách hành xử với Trang Trần, chính quyền đương nhiên lựa chọn cách giải thích pháp luật và xác định giới hạn tự do có lợi nhất cho họ.

Vậy nên nói gì thì nói, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về với cái vòng kim cô chính trị mà Việt Nam đang đeo trên đầu. Có cố tình lảng tránh đến đâu, viện dẫn kiến thức bác học nào và biện minh bằng tinh thần bác ái cao đến đâu đi chăng nữa, câu trả lời cuối cùng chỉ có một. Loại bỏ Đảng ra khỏi các tranh luận pháp luật chỉ thể hiện hoặc là đánh giá không đúng mức vai trò của Đảng trong đời sống pháp luật, hoặc là cố tình lảng tránh. Tôi không hứng thú với những tranh cãi lặt vặt về luật thực định lắm, vì đó không phải cái cần nói.

2. Luật sư Vi Katerina Trần:

… Quyền diễn giải pháp luật ở Việt Nam thật ra là thẩm quyền của ai? Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho nên có thể thấy cả hai hệ thống pháp luật trên thế giới, án lệnh và dân luật đều không thể là cơ sở để trả lời vấn đề này.

Tôi không lên tiếng biện minh cho hành vi của cô Trang Trần. Tuy nhiên, hệ thống tư pháp ở Việt Nam bị xem thường quá mức và người dân không thể có một phán xét công bằng khi cơ quan hành pháp (đại diện là công an) nắm cả quyền diễn giải pháp luật và trước khi có phán xét của tòa án, dư luận đều dựa vào các tuyên bố của công an để định tội sẵn. Như thế, vấn nạn án tại hồ sơ không chỉ là sự thiếu trách nhiệm và vô năng của hệ thống tư pháp hay sự lạm quyền và tiếm quyền của cơ quan hành pháp mà còn là trách nhiệm của bất kỳ ai chấp nhận lối hành xử xem thường pháp luật như thế. Tôi cho rằng hành vi xem thường pháp luật được thể hiện rất rõ khi một xã hội không coi trọng vai trò của ngành tư pháp, nơi đại diện cho pháp luật. Không phải ngẫu nhiên mà quyền thẩm định và diễn giải luật pháp tối thượng ở Hoa Kỳ được nằm trong tay Tòa Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.

Trở lại việc (…) ở Mỹ, cảnh sát có thể bắt một người say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ. Điều đó không sai. Tuy nhiên, khi cảnh sát bắt người, có những chuẩn mực pháp lý mà người thi hành công vụ phải tuân theo hay không? Đương nhiên là có. Nếu người thi hành công vụ lạm quyền thì họ có bị pháp luật chế tài hay không? Cũng đương nhiên là có. Và người bị cảnh sát cáo buộc say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ có cơ hội phản biện hay không? Chắc chắn có. Đó là bởi vì đến cuối cùng, tòa án mới là nơi quyết định ai có tội ai không. Đơn cử ví dụ ở Mỹ, là hồ sơ của của Rodney King, một người đã bị cảnh sát Los Angeles bắt vì vi phạm luật giao thông và bị nghi ngờ có sử dụng chất kích thích khi lái xe. Vì có 4 viên cảnh sát đã lạm quyền và sử dụng vũ lực, chính những người cảnh sát này cũng phải đối diện pháp luật vì những hành vi của họ.

Một người được cho là vô tội cho đến khi tòa án phán quyêt có tội. Cô Trang Trần chỉ bị công an bắt, KHÔNG AI CÓ QUYỀN định tội lúc này vì đó là nguyên tắc suy đoán vô tội. Một người khẳng định người khác có tội trước khi tòa tuyên án, thì với tôi, đó là sản phẩm của chế độ công an trị!

Sau cùng, quyền con người hay nhân quyền, mọi người ai cũng có. Tôi tuy không bênh vực cô Trang Trần, nhưng tôi không thấy lý do gì để quyền con người của cô ấy, nếu bị vi phạm, thì không đáng cho tôi lên tiếng nếu tôi cảm thấy đó là việc nên làm.

Việc "xử làm gương" trong trường hợp này cũng có thể được hiểu là "đánh dằn mặt".

3. Đoan Trang:

Rất mong các bạn, khi kêu gọi "thượng tôn pháp luật", cũng nên chú ý tới hai vấn đề: 1. Luật nào, do ai đặt ra, bản chất của nó như thế nào? 2. Ai là người giữ quyền diễn giải luật pháp ở Việt Nam?

Cái mà tôi muốn nói ở đây là sự bất cập trong việc thực thi công lý ở Việt Nam. Ví dụ, như thế nào là “chống người thi hành công vụ”, và ai là người định nghĩa/ diễn giải việc đó? (Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, tôi biết có trường hợp bị một toán công an xã đánh hội đồng, nạn nhân tự vệ bằng cách xô công an ra để chạy, và cuối cùng vẫn bị bắt ngay tại chỗ, tống đi tù (không án) vì tội “chống người thi hành công vụ”).

Trang Trần chửi và đánh công an thì các báo đều đưa tin, nhưng không thấy báo nào nói về bộ mặt tím một nửa bên của Trang Trần, chẳng biết là do công an đánh hay có nguyên nhân gì khác. (Tôi cũng đoán trước rằng nếu có thì thể nào câu trả lời cũng sẽ là “Trang Trần say rượu và trong lúc cự cãi với công an thì ngã đập mặt vào bàn/ ghế/ v.v.”).

Vấn đề ở đây là, có ai nhận thấy rằng Trang Trần đang hoàn toàn ở thế yếu và không thể tự vệ? Ngay từ đầu, tất cả thông tin đều do công an đưa ra. Việc diễn giải hành vi của Trang Trần cũng là công an toàn quyền quyết định. Đấy là chưa nói đến việc căn cứ Bộ luật Tố tụng Hình sự, công an phường Hàng Buồm không thể “bắt khẩn cấp” Trang Trần được. Ai đảm bảo công an đang không lạm quyền trong vụ Trang Trần và tất cả các vụ tương tự?

Chúng ta có thể chỉ trích Trang Trần xả láng và ngoa ngoắt bao nhiêu cũng được, nhất là khi giờ này cô ấy đang ở trong tay công an, đang bị giam và không thể có cơ hội lên tiếng. Nhưng sao không ai đặt vấn đề về các sai phạm (có thể có) của công an: Còng tay, đánh người khi người đó đang say và về thể lực, thế lực thì người đó yếu hơn hẳn công an; bắt khẩn cấp là hành động bắt giữ tùy tiện và sai luật (Bộ luật Tố tụng Hình sự của chính Việt Nam); từ chối quyền tiếp cận luật sư của Trang Trần; khống chế và có biểu hiện ép cung để buộc Trang Trần phải viết giấy, quay video nhận lỗi; làm nhục công dân khi quay và tung video nhận lỗi của Trang Trần lên mạng...

Có ý kiến cho rằng những thành phần như “bọn dân chủ” mà dính vào vụ này thì càng làm khổ Trang Trần hơn, bởi vì không dưng lại đẩy vụ án thành “án điểm”, xử làm gương. Nói như vậy chẳng hóa ra tòa án xử theo dư luận? Thấy dư luận như thế thì càng phải xử nặng cho dư luận sáng mắt, cho chừa… – tòa án hay là trẻ nít lên ba vậy?

(Ồ mà nếu xử theo dư luận thật, thì sao tòa không “xử làm gương” luôn thủ phạm trong hàng chục vụ án vụ dân thường tử vong ở đồn công an?)

Lại có người “khuyên” rằng nếu đấu tranh cho nhân quyền thì nên chọn trường hợp khác mà bảo vệ, chứ đừng phí công cho Trang Trần vì cô ta sai. Điều đó cũng hệt như khi có các ý kiến khuyên mọi người đừng hơi đâu bảo vệ ông Kim Quốc Hoa và báo Người Cao Tuổi, vì “bên ấy làm báo kém nghiệp vụ lắm, sơ hở lắm, làm báo kiểu ấy không sai mới lạ”, v.v. Nói vậy thì hỏi đến bao giờ trong số các nạn nhân của tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam mới có người xứng đáng để chúng ta lên tiếng bảo vệ đây?

Lời kết

Đến đây, hẳn chúng ta đều đã xác định được “con voi trong phòng khách” kia là gì. Nói về luật pháp và nền hành pháp, tư pháp của một đất nước, không thể nào không đề cập tới chính trị, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam, khi “tà trị” (chứ không phải “chính trị”) đang chi phối mọi mặt của đời sống và kìm giữ sự phát triển của con người. Nói đến luật pháp, đến cái gọi là “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam mà lại không nói đến vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì khác nào tảng lờ một “con voi trong phòng khách”.

Hành pháp lộng hành, tùy tiện, thì được bao nhiêu người bênh vực, thương cảm, đòi “xử nghiêm” công dân để “làm gương, răn đe”. Trong khi đó, tư pháp ngồi đuổi ruồi và làm cảnh bao lâu thì không thấy mấy ai quan tâm. Điều đó, không gì khác, cũng là một biểu hiện của xã hội công an trị.

Đoan Trang
Theo blog Đoan Trang

9 sai lầm lớn bạn nên biết khi đi lễ chùa

Cúng dường bằng đồ mặn, tiền lẻ, vàng mã, hoặc rượu, thuốc lá, thậm chí là cầu tài, cầu tình,... đều là những sai lầm khi đi lễ chùa bạn nên biết, thậm chí có thể khiến bạn mắc 'đại tội" với đức Phật.

Người xưa đi lễ chùa là để thể hiện lòng kính ngưỡng đối với Phật, biết rằng điều Phật dạy con người là tu nhân tích đức, điều Phật ban cho con người không phải là tiền bạc của cải hay sức khỏe mà là trí huệ và giác ngộ tâm linh.

Chùa vốn là chốn vô cùng linh thiêng, thanh tịnh, tách biệt với thế tục để những người xuất gia tĩnh tâm tu hành theo lời Phật dạy để giải thoát khỏi bể khổ luân hồi. Đây cũng là nơi những chúng sinh ngoài thế tục tới để tỏ lòng kính ngưỡng Phật, gieo mầm cơ duyên với Phật Pháp.

Theo kinh điển nhà Phật, Phật không cần chút vật chất gì ở con người, mà vì sự từ bi, chư Phật muốn giang tay cứu độ con người ra khỏi bể khổ của lục đạo luân hồi. Sinh lão bệnh tử, mọi sự việc ở cõi người vốn là chiểu theo luật nhân quả, ai làm điều ác sẽ kết ác duyên, ai làm điều thiện sẽ kết thiện duyên. Phật chỉ có thể giúp những người kính Phật hướng tâm tích đức tu thiện, khuyên con người từ bỏ ham muốn vật chất, từ bỏ “tham sân si” để đạt được tâm thanh tịnh, tiến đến cảnh giới giác ngộ, chứ không thể ban phát tài lộc, công danh, hay giúp con người tiêu tai giải nạn.

Sau đây là những sai lầm lớn khi đi lễ chùa mà nhiều người mắc phải. Khi làm sai, có thể con người không những không tạo được công đức mà còn có thể mắc thêm đại tội với Phật.


1. Cúng dường tượng Phật đồ mặn

Hiện nay vẫn có những người cúng dường gà xôi, vốn là đồ mặn, lên tam bảo. Trong tâm họ thông thường cảm thấy không yên tâm, nếu như chỉ có trái cây và hương hoa. Thực tế ai cũng biết câu “đi lễ Phật quan trọng nhất ở tấm lòng thành”, “Phật chỉ ăn hương ăn hoa” nhưng dường như con người đã quen cách nghĩ rằng dùng vật chất mà con người vốn yêu thích để thể hiện ra “lòng thành” của mình với Phật, cho rằng lễ càng to càng đắt tiền mới thể hiện ra “lòng thành”. Đây thực tế là tư duy biếu xén quà cáp vốn để đổi lấy những thứ mà họ đang mong cầu đã ăn sâu vào tâm khảm. Khi con người có thói quen sùng bái vật chất kim tiền, các vấn đề đạo đức lại dường như bị xem nhẹ.

Theo những gì trong kinh điển nhà Phật, vật chất ở cõi người lại là điều Phật xem nhẹ nhất, cái thiện đức của con người mới là điều Phật nhìn, Phật chỉ nhìn vào tâm thiện đức của con người mà thôi.

2. Cúng dường Phật tiền lẻ, tiền vàng mã, hóa vàng mã tại chùa

Cũng như trên, tiền lẻ và tiền vàng mã vốn hoàn toàn không phải những thứ vật chất mà con người có thể dâng lên cõi Phật. Xả bỏ tâm tham lam mê đắm vật chất tiền bạc vốn là điều đầu tiên Thần Phật khuyên răn con người. Tiền lẻ còn là một thứ “bẩn” hết mức đến con người cũng biết, vốn đã có thể qua tay bác hàng thịt, cô hàng cá, bác hàng rau, v.v… dính đầy trên đó là vi khuẩn vi trùng, chứ chưa nói đến sự thanh khiết. Mà người ta luôn nói, cần phải dâng lên Phật những gì tinh khiết nhất…

Tiền địa phủ (hay còn gọi là tiền âm phủ) và vàng mã, vốn tự thân nó đã nói rõ là tiền dành cho cõi âm gian, địa phủ, người chết về cõi âm gian, chúng sinh cô hồn vơ vất không nơi trú ngụ. Còn Phật ở nơi cảnh giới cao siêu, sao lại có thể dùng tiền của cõi địa phủ?

3. Cúng dường Phật rượu, thuốc lá

Con người dường như quên hẳn trong giới cấm của nhà Phật có rượu và thuốc lá, vẫn hồn nhiên cúng dường tượng Phật những món đồ cấm kỵ này.

4. Cầu khấn tài lộc, sự vụ làm ăn, buôn một bán mười

Trong văn hóa truyền thống, khi một năm mới tới, người ta đi chùa là để hướng lòng thành kính về đức Phật, hướng thiện, ghi nhớ đức từ bi, trí tuệ của nhà Phật. Trong kinh điển nhà Phật, luôn dạy rằng Phật tại tâm, mang hàm ý mỗi chúng sinh, mỗi con người đều vốn đã có cái Phật tính. Hướng tâm tu Phật là để gia tăng Phật tính. Tu Phật không phải hướng ngoại mà cầu, mà là hướng vào tìm ở trong chính bản thân mình, khơi dậy thiện niệm của chính mình để Phật tính vốn sẵn có trong con người được khởi phát. Cho nên, đi lễ chùa vốn chỉ là để làm khởi phát cái thiện tâm của mỗi người.

Vậy mà ngày nay, cái sự hướng ngoại cầu đó đã trở nên quá mạnh mẽ và phổ biến, người ta coi điều sai thành đúng, và là đương nhiên. Họ đã quên mất hẳn những điều Phật dạy: tránh xa lòng tham và sự mê đắm vật chất, cần phải buôn bán làm ăn chân chính ngay thẳng… “Tham, sân, si” là điều Phật khuyên con người từ bỏ, vậy mà tại chùa, cái “tham, sân, si” lại thể hiện rất rõ trong những ngày lễ đầu xuân. Còn nghe thấy người khấn bên cạnh tại chùa đang đọc rất to biển số xe ô tô của mình, không hiểu họ xin gì. Những sự vụ nhỏ nhặt nhất cũng được nêu trong “bản báo cáo và cầu xin với đức Phật”. Ngay cả những phi vụ làm ăn không chân chính cũng được người ta đường hoàng lấy ra làm chủ đề cầu xin Phật.

5. Xoa đầu, xoa bụng tượng, nhét tiền vào tay, vào lòng tượng, xoa tiền lẻ lên thân tượng, rải tiền khắp nơi

Tại chùa ngày nay, người ta chen nhau để nhét tiền vào tay tượng, xoa bụng, xoa chân tay, xoa đầu tượng rồi xoa lên mặt mũi mình để mong cầu may mắn. Đó là những hành động bất kính và sai trái nhất mà con người vẫn hồn nhiên làm. Nó cho thấy sự xuống dốc về đạo đức, sự kém hiểu biết trầm trọng về văn hóa. Con người ngày nay không còn hiểu Phật rõ có thể ban gì cho con người, cũng không hiểu Phật mong muốn gì ở con người. Vào chùa lễ Phật để đi tìm sự an lạc trong tâm thái, để khởi phát thiện tâm, chứ đâu phải để cầu xin đắc phúc, được lợi lộc, vốn là những điều Phật luôn khuyên con người không nên chấp mê vào đó?

6. Mang tro cốt người chết lên chùa và cúng lễ cho người chết tại chùa

Sự việc này ngày nay đã trở nên phổ biến nhất và người ta cũng coi là nghiễm nhiên nhất, không có gì phải suy nghĩ. Nhưng thực ra đây là một trong những sự bất kính lớn nhất đối với chư Phật. Chùa là nơi thờ tự Phật, có thể nói là nơi mà pháp thân của Phật ngự, một cách nói khác là có Phật ở đó. Vậy mà hằng bao nhiêu âm hồn người chết lại có thể ở cùng một nơi, cùng một gian, ngang hàng cách ban Phật có vài bước chân, và chen chân rất đông đúc. Con người vốn chỉ là chúng sinh của Thần Phật, và Thần Phật ở nơi cảnh giới rất cao siêu, tới thế gian để giúp con người gìn giữ thiện tâm, độ con người lên cảnh giới giác ngộ, làm sao có thể ngự ở ngang hàng với chúng sinh? Với lý do “nương nhờ cửa Phật”, con người đã tự ý sắp đặt để Phật phải “trông coi và bảo hộ cho người chết”.

Lấy một ví dụ hình tượng để người đọc dễ hình dung, theo quan niệm của người Việt Nam, heo (lợn) được thấy là bẩn và thấp kém so với con người, vậy chúng ta có ai đồng ý cho heo (lợn) ăn ở sinh hoạt cùng phòng với mình không? Ai đề đạt điều đó với chúng ta liệu có phải bị coi là đang xúc phạm chúng ta không?

Vậy mà con người không lý trí không hiểu Phật, cho phép biến ngôi chùa thành giống như nghĩa trang với đầy tro cốt.

7. Đi chùa cầu tình

Hà Nội có một ngôi chùa khá nổi tiếng, chùa H., nơi đó người ta luôn đồn nhau là nơi để “cầu tình” rất hiệu quả và những người tới đây đa số là các bạn trẻ. “Trang phục nghiêm túc, lễ lạt đầy mâm, đầy đủ rượu thuốc lá, mặt buồn rười rượi’ là hình ảnh thường thấy của các bạn trẻ tới đây. Đó là những trường hợp “buồn vì tình”, cũng có nhiều trường hợp trong trạng thái vật vã đau khổ nước mắt đầy mặt, đó là những trường hợp “thất tình”, gây ra những tình huống dở khóc dở cười tại chùa. Người ta có thể không quá hiếm khi bắt gặp cảnh này: Một cô gái, mặt lấm lem vì nước mắt, đặt mâm lễ lớn rồi lẩm bẩm khấn. Đột nhiên, cô khóc oà lên: “Em đã dồn hết tiền đi lễ, lễ này sẽ thật thiêng để anh quay về… Chẳng ai yêu anh hơn em yêu anh đâu, đừng phụ bạc tình em”. Khi trong trạng thái tinh thần quá đau khổ các bạn trẻ dường như không kìm giữ nổi nên cũng không giữ thể diện được nữa với những người xung quanh như thế. Đứng trước các Phật, nhưng người ta lại dường như kêu gào với người yêu cũ của mình.

Ta hãy cùng thử ngẫm nghĩ, điều đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bảo con người là loại bỏ “tham, sân, si”. Tình cảm con người ai cũng biết là “duyên số”, “duyên phận”, không cầu cũng đến, hết duyên là đi và giữ cũng không được. Lụy vì tình cảm nam nữ chính là cái “si” mê mờ nhất Phật bảo chúng ta tránh. Các bạn trẻ đã hiểu điều Phật dạy tới đâu mà có thể đem lễ tới cửa Phật để thể hiện những cái si như thế?

8. Bán khoán con vào chùa

Hiện nay, có khá nhiều các bậc cha mẹ ông bà đem con “bán khoán” lên chùa với mong muốn con ăn ngoan, ngủ sâu, nhanh lớn, ít ốm đau, thông minh và gặp nhiều may mắn.

Nhiều bà mẹ mang bầu cũng đã lên chùa hỏi về thủ tục “bán khoán”, như một thủ tục nhập học vậy. Thông thường có 2 hình thức “bán khoán” con lên chùa: “bán” tới năm 13 tuổi hoặc “bán” vĩnh viễn.

Các bạn thử ngẫm nghĩ, chư Phật có lẽ nào có hình thức trao đổi mua bán với con người? Chùa liệu có phải nơi có thể diễn ra các hoạt động mua bán?

9. Theo chùa “thiêng” bỏ chùa làng

Xưa, chùa làng nào, dân làng nấy thờ (tức làng nào cũng có chùa). Đó là xuất phát từ việc tín ngưỡng Phật luôn ở bên cạnh, ở khắp nơi, trông nom gìn giữ cho con người bảo trì được thiện tâm, tin điều thiện tránh điều dữ, tích phúc đức. Kính Phật lên chùa là việc để thể hiện kính ngưỡng, không với tâm cầu xin tài lộc.

Còn nay, nhiều người do tâm lý đám đông, nghe nói chùa nào thiêng, chùa nào nổi tiếng thì nô nức đến dâng lễ cầu xin. Điều đó là bởi vì họ tin rằng chùa thiêng thì xin gì được nấy, xin được nhiều. Tâm cầu tài lộc quá mạnh mẽ, giống như một cuộc mua bán đổi chác mặc cả với Phật. Người xưa không có cái tâm phân biệt ấy, họ tin rằng ở đâu có người thiện đức thì ở đó có Phật. Chùa chỉ là hình thức do con người dựng nên, nên nếu ngay cả sư trong chùa có biểu hiện ham tiền của vật chất, biểu hiện của ham tình sắc, không tuân theo những lời dạy của Phật thì ở đó chắc chắn không có Phật ngự, cho dù chùa đó to lớn thế nào, tượng Phật có lộng lẫy dát vàng dát bạc ra sao.

Ngày nay người ta thấy quá nhiều các trường hợp mà sư tăng cai quản những ngôi chùa thật to lớn, lộng lẫy dát đầy vàng bạc, nhưng họ đeo vàng nhẫn đầy thân, đi xe sang, điện thoại đắt tiền, biểu hiện sự ham muốn hưởng thụ tiện nghi vật chất rất mạnh, nói năng hành xử không khác người ngoài thế tục, vậy họ còn xứng đáng là con của Phật, nơi chùa họ trông nom liệu Phật còn muốn ngự không? Người tu hành xuất gia là phải tu “xả bỏ” những ham muốn thế tục, vậy họ có phải đang làm trái ngược hẳn với điều Phật dạy. Những ai gặp những ngôi chùa như vậy, chúng ta nên suy ngẫm xem. Có rất nhiều người khi tới chùa cũng thắc mắc trong lòng khi nhìn thấy những sự chướng tai gai mắt trong hành xử của sư tăng trong chùa, nhưng vì thói quen và thấy chùa to lớn đẹp đẽ nên nghĩ rằng hẳn vẫn là tốt đẹp khi cúng Phật ở đó. Song theo như ý kiến của nhiều người tu hành chân chính, những ngôi chùa chẳng hề thanh tịnh sẽ không có Phật ngự mà thay vào đó lại chính là quỷ ma hoành hành.

Thanh Liên
Theo Đại Kỷ Nguyên

Đảng mất mình đi đâu?

Không phải chỉ trong hàng ngũ công an mới có người đang đặt câu hỏi trên. Tất cả những kẻ đang nắm quyền hành và hưởng lợi lộc nhờ chế độ Cộng Sản cũng ôm nỗi băn khoăn này.

Đảng mất mình đi đâu? Có người đã chọn rồi: Đi Mỹ! Trên mạng Internet đã thấy hình ngôi nhà một ông phó thủ tướng đương quyền mua ở Anaheim, California, USA. Cả hình bằng lái xe ở California của con trai ông ta. Trong đảng họ phá lẫn nhau cho nên mới tiết lộ cho bà con biết, còn hàng ngàn căn nhà khác vẫn được giữ kín “bảo vệ đảng.” Chắc chắn nhiều cán bộ cao cấp cũng tìm đường chạy từ lâu rồi. Và họ cũng biết một quy tắc của nghề đầu tư là “Không để trứng tất cả vào chung một cái giỏ.” Nếu rớt, trứng bể hết. Cho nên, những kẻ quyền cao nhất, thế mạnh nhất, “đông tiền” nhất, họ đều biết phải “phân tản” (diversify) các món đầu tư cho tương lai. Một căn nhà ở Mỹ, một cái khác ở Đức, vài ba địa chỉ ở Úc, gửi tiền của đi chỗ nào xa xa nước Việt Nam đều tốt cả. Mà phải chọn những nơi an toàn. An toàn nhất là những nước dân chủ tự do. Chọn nơi nào có hệ thống tư pháp công bằng, trong sạch, tài sản của mình được luật pháp bảo vệ, không sợ có đứa nó ỷ quyền chiếm mất - như ở nước Việt Nam. Đem tiền sang các nước đó không những khỏi lo bị cướp mà dùng làm vốn sẽ sinh lợi cao hơn. Những nước có truyền thống dân chủ lâu đời cũng là những nước kinh tế lên cao nhất, nhờ tinh thần trọng pháp và luật lệ bảo vệ quyền tư hữu. Cho nên, các đồng chí chưa chắc đã mua nhà ở Quảng Châu, Côn Minh, Bắc Kinh, mà còn đem tiền sang các nước tư bản chính hiệu. Đó là tín hiệu con tàu sắp chìm, đàn chuột bỏ chạy trước.

Đảng mất mình đi đâu? Không phải ai cũng có tiền và có địa vị để chuẩn bị đường rút lai sang Tàu, sang Úc, Canada, Pháp, Đức, hay sang Mỹ.

Cho nên, đang lo lắng nhất bây giờ chắc là những người công an. Khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” đã được nêu lên từ thời Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ. Công an tự nhận họ đóng vai “chó săn;” nhưng hãnh diện rằng họ “làm chó săn cho cách mạng!” Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản tài tình đã dựng hai chữ “cách mạng” như một vị thần hoàng để họ chui vào cung đình chia nhau ăn thủ lợn. Cái gì phục vụ“cách mạng” thì tốt, thì cao quý. Gán cho ai nhãn hiệu “phản cách mạng” thì xúi giục đám “quần chúng” côn đồ chửi bới, chém giết (Cải Cách Ruộng Đất), ám sát (Coi gương Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm) ném phân vô cửa nhà người ta (Coi Hoàng Minh Chính, Trần Khải Thanh Thủy), hoặc đem vùi xuống đất đen (Coi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần). Núp dưới bóng thần “cách mạng” đó, công an “phục vụ cách mạng” là công an an tốt, đáng tự hào. Họ có thể hãnh diện nhìn nhận công an an gắn bó keo sơn với đảng; họ hô to khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” mà không thấy xấu hổ về cái vai trò ăn bám như loài ký sinh trùng.

Nhưng bây giờ, bức mặt nạ “cách mạng” đã rớt xuống. Đảng lệ thuộc ngoại bang đến mức không dám gọi tên những con tàu ăn cướp dân mình là Tàu Trung Quốc mà bắt các báo đài phải gọi là “tàu lạ.” Dân bèn chế nhạo: Coi chừng Người Lạ, Hàng Lạ! Chế độ gọi là “cách mạng” đã từng “học tập Mao Chủ Tịch” chia rẽ dân tộc, gây đấu tranh giai cấp, gây chiến tranh Nam Bắc, người Việt giết người Việt cho Trung Cộng thừa cơ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Những công an dẫn đám côn đồ đàn áp các cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa của dân Sài Gòn, dân Hà Nội, phải tự nhìn thấy họ đang bị Đảng Cộng Sản xua đi phục vụ đế quốc đỏ Trung Hoa. “Mình còn” nhưng “Nước mất” thì ai sẽ trả lời cho con cháu đây?

Chính công an cũng thấy rõ chế độ bây giờ chỉ còn là một bộ máy cường quyền liên kết với tư bản đỏ tham nhũng, trục lợi. Đó là hậu quả không thể tránh được ở bất cứ nước nào do một chế độ độc tài đảng trị cầm quyền. Đảng còn ăn cướp được thì mình còn được ăn cướp. Nhưng họ cũng thấy hình ảnh những ngôi biệt thự xa hoa của những bí thư tỉnh ủy to lớn sang trọng hơn nhà mình trăm lần, ngàn lần. Họ đã thấy hình phòng khách trong nhà cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu toàn bảo vật quốc gia. Gần đây là hình trong nhà Nông Đức Mạnh, tường cũng dát vàng với hai cái ngai vàng chạm hình rồng, bắt chước vua chúa đời xưa. Người có học nhìn cảnh đó phải cảm thấy thương hại đám cựu tổng bí thư đua đòi “trưởng giả học làm sang” bày trò khoe khoang nhơ nhuốc! Ngoài những “của nổi” này, các vua chúa đỏ còn bao nhiêu “của chìm” cất giấu trong các ngân hàng, trong thị trường chứng khoán và bao nhiêu ngôi biệt thự đã mua ở ngoại quốc? Công an vẫn phải đóng vai “chó săn,” nhưng bây giờ họ đang làm chó săn cho loài vua chúa nhố nhăng đó chứ chẳng có thứ cách mạng nào cả.

“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình đi đâu?” Đó là câu hỏi đang ám ảnh những người công an biết suy nghĩ. Ở Việt Nam, Bắc Hàn và Trung Quốc.

Một mối lo ám ảnh nặng nề nhất là “ngàn năm bia miệng.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không phải là người nhỏ mọn. Nhưng trước khi qua đời ông không thể không nhắc đến tên một tay chỉ huy công an ở Hải Phòng, mà nhờ cuốn sách “Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn” của ông bây giờ cả nước biết họ biết tên. Họ và tên ông này là Trần Đông, thường vụ thành ủy, giám đốc sở công an Hải Phòng. Trần Đông đã vu cáo, đầy đọa nhiều nhà văn, chỉ để chứng tỏ mình tích cực tham dự chiến dịch vu cáo “nhóm xét lại chống đảng.” Bỏ tù mấy nhà văn làm lễ dâng công với Lê Đức Thọ, nhờ thế Trần Đông được thăng quan, lên làm tới chức thứ trưởng. Con cháu ông Trần Đông có cảm thấy nhục nhã khi biết cha, ông mình đã làm những việc thất đức đó hay không?

Bùi Ngọc Tấn không muốn thanh toán mối thù riêng. Ông phải viết ra vì món nợ chung với bao nhiêu bạn tù bị guồng máy độc tài hãm hại. Không kể hết thì những mối oan khiên không bao giờ được cởi. Nhà thơ Hoàng Hưng viết lá thư mở đầu cuốn sách đã thông cảm nỗi lòng Bùi Ngọc Tấn. Cho nên ông đã viết những lời hứa, những lời nguyền: “Còn một ngày cũng sống sao cho ra sống! Vì thế chúng ta phải viết! Họ không muốn ta viết, ta phải viết! Họ sợ ta viết, ta phải viết! Họ cấm ta viết, ta phải viết!...”

Những người không viết, họ có thể quay phim, có thể chụp hình. Vì vậy những bức ảnh ngai vàng trong nhà Nông Đức Mạnh mới được đưa lên mạng. Người phóng viên cầm máy ảnh trong tay chứng kiến cảnh vàng son lố bịch đó tự cảm thấy mình phải giúp tất cả đồng bào trông thấy cuộc sống xa hoa nhố nhăng của các vua chúa đỏ! Người biên tập trong tòa báo cũng đồng ý. Dòng họ Nông sẽ đi vào lịch sử không phải vì ông Nông Đức Mạnh làm lãnh tụ Đảng Cộng Sản một thời. Cả cuộc đời làm tổng bí thư của ông ta không ai nhớ Nông Đức Mạnh đã làm gì, đã nói được câu nào cho ra hồn. Nhưng từ nay ai cũng nhớ hình ảnh hai cái ngai vàng chạm đầu rồng trong nhà Nông Đức Mạnh!

“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình biết trốn đi đâu?”

Không ai trốn được ngàn năm bia miệng!

Những người công an bây giờ biết nhiều hơn, nhìn lại các thủ lãnh đời trước cũng phải thấy nhục, phải xấu hổ: Cả ngành công an đã thối nát ngay từ thủa ban đầu, không phải chỉ vì những tên như Trần Đông. Trần Quốc Hoàn, trùm công an toàn quốc cũng “phục vụ cách mạng” bằng việc “dẫn gái” và giết người bịt miệng. Hoàn đã đưa cô gái từ miền thượng du về cho Hồ Chí Minh, hai bác cháu dùng xong rồi đem thủ tiêu người phụ nữ xấu số bằng tai nạn ô tô. Vũ Thư Hiên đã kể rõ chuyện trong Đêm Giữa Ban Ngày. Ngàn năm bia miệng, biết trốn đi đâu?

Tất cả các chế độ độc tài thối nát đều sẽ tan rã. Những người công an phải đọc được các tín hiệu báo trước chế độ đang tan rã. Một gia đình nông dân ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đứng giữa chợ đả đảo chế độ Cộng Sản. Cậu con trai đã không ngần ngại hô khẩu hiệu “Tiêu diệt Đảng Cộng Sản!” “Tiêu diệt! Tiêu diệt!” Người mẹ còn hô to: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!” Mà họ không chỉ hô một, hai lần! Lòng người dân phải chứa chất nỗi phẫn uất đến mức nào họ mới dám liều mạng hô to những tiếng “chết người” như vậy!

Chế độ độc tài chuyên chế nào cũng phải tan rã. Dân Việt Nam không ngu, không hèn hơn dân các nước Đông Âu. Công an mật vụ ở các nước này đã ngửi thấy mùi chế độ tan rã trước tháng 11 năm 1989. Cho nên khi chứng kiến cơn thủy triều dân chủ tự do dâng lên chính họ bỏ rơi Đảng Cộng Sản. Cuộc cách mạng ở Đông Đức không thể thành công nếu các công an Stassi đang gườm súng quyết định bắn vào đám biểu tình ngay trong ngày đầu ở thành phố Dresden. Dân thủ đô Praha nước Tiệp không thể tiến chiếm “Lâu Đài” nếu chính các công an không buông súng để ủng hộ. Đảng Cộng Sản Liên Xô tan hàng khi chính các sĩ quan KGB ngoảnh mặt đi, không cứu, dù chỉ bắn một phát súng. Trong cả ba nước đó, không một ai cất một ngón tay lên cứu Đảng Cộng Sản! Không một người nào nhỏ một giọt nước mắt tiếc thương! Tất cả cũng từng thuộc lòng câu: “Đảng còn thì mình còn!” Nhưng chính họ cũng nhiều đêm nằm vắt tay lên trán tự hỏi: “Đảng mất mình biết trốn đi đâu?” Và họ đã lựa chọn: Mình đứng về phía những người dân oan ức! Dân còn thì mình còn!

27-2-15
Ngô Nhân Dụng
(Người Việt)

Campuchia: 36 người Thượng đã bị bắt và trao cho Việt Nam

Do không thể tiếp tục lẫn trốn người Thượng Việt Nam được một người dân bản địa Campuchia tổ chức rời khỏi nơi ẩn náu để tìm Cơ quan đại diện Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, chưa ra khỏi tỉnh Ratanakiri thì nhóm người này bị mất tích, nguồn tin của người dân địa phương cho biết những người này đã bị bắt giao cho Việt Nam.


Một nhóm người Thượng trốn từ Việt Nam sang khu rừng Rattanakiri ở Campuchia được một đội ngũ của Liên Hợp Quốc cứu hồi tháng 12, 2014

Nhân chứng trực tiếp chứng kiến vụ bắt giữ này cho biết 36 người Thượng đã bị cảnh sát tỉnh Ratanakiri bắt khi trên đường đến Phnom Penh.

Cũng theo nhân chứng này vào tối 25 rạng sáng 26 tháng 2 năm 2015, 36 người Thượng tỵ nạn và một người Jarai Campuchia dẫn đường đi trên 2 chiếc xe xuất phát từ huyện Lumphat đến quốc lộ 78A đoạn lên đèo Kon Mum, huyện Kon Mum tỉnh Ratanakiri thì bị cảnh sát bắt giữ.

Theo ông Chhay Thy, đại diện tổ chức bảo vệ nhân quyền Adhoc phụ trách tỉnh Ratanakiri thì 36 người Thượng đã được đưa về Việt Nam vào lúc 3 giờ sáng ngày 26 tháng 2 năm 2015, riêng người Jarai Campuchia là người dẫn đường đã bị cảnh sát tỉnh Ratanakiri bắt giam.

  Chúng tôi đã liên hệ với người lái xe, ông ta đã thừa nhận chỡ 36 người Thượng sang Việt Nam theo cửa khẩu Oyadaw. Chỉ có 36 người Việt Nam thôi, người Jarai Campuchia thì bị giam ở Campuchia chứ không mang qua Việt Nam

   »  Ông Chhay Thy
Ông Thy, "Chúng tôi đã liên hệ với người lái xe, ông ta đã thừa nhận chỡ 36 người Thượng sang Việt Nam theo cửa khẩu Oyadaw. Chỉ có 36 người Việt Nam thôi, người Jarai Campuchia thì bị giam ở Campuchia chứ không mang qua Việt Nam".

Liên quan đến vấn đề này theo ông Long Rukkha, trưởng cảnh sát xuất nhập cảnh phụ trách cửa khẩu quốc tế Oyadaw cho biết trong đêm 25 rạng sáng 26 tháng 2 năm 2015, ông không ghi nhận có bất kỳ trường hợp người nhập cư hay người tỵ nạn nào bị đem ra khỏi Campuchia theo cửa khẩu này cả.

Ông này cũng khẳng định, không thể có việc mang người nước ngoài ra khỏi biên giới qua cửa khẩu này mà không thực hiện thủ tục xuất nhập cảnh được. Ông Long Rukkha: "Không có đâu. Chỉ có khách bình thường là nhân viên các công ty họ đóng passport để vào làm việc thôi".

Chiều ngày 1 tháng 3 năm 2015, chúng tôi đã cố gắng liên hệ với ông Hồ Kỳ Trọng, trưởng công an huyện Đắk Pơ qua số điện thoại di động của ông nhiều lần những vẫn không thể xác minh được thông tin này vì không có người trả lời.

Chúng tôi đã liên lạc được với gia đình một người Thượng ở xã Ia Rong, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Anh này cho biết em của mình đã được công an đưa về nhà. Anh này cho biết: "Em của mình nó về từ hôm qua rồi. Có đa số về rồi, đa số chưa về".

Qua điện thoại, chúng tôi cũng liên hệ được một người Thượng khác vừa về đến nhà. Chị này yêu cầu đài Á Châu Tự Do không phát tiếng của mình cho biết, nhóm của chị bị bắt gồm 18 người và bị giam giữ tại trụ sở công an huyện Đắk Pơ từ tối 25 rạng sáng ngày 26 đến ngày 28 tháng 2 thì được đưa về nhà.

  Theo thông tin của người Jarai Campuchia thì một số người Jarai Việt Nam là người dẫn đầu đã bị chính quyền của họ đánh đập và vẫn chưa được thả về

» Ông Chhay Thy
Một người Thượng khác cũng ở xã Ia Rong, thuộc nhóm này cho cho biết tất cả 18 người thuộc nhóm ông đã được công an đưa về đến nhà. Họ chỉ bị công an tát vào mặt và đe dọa không cho trốn sang Campuchia nữa chứ không bị thương tích hay bắt giam gì.

Cũng theo ông này, có 36 người Thượng bị bắt lên xe về Việt Nam, nhưng đến trụ sở huyện Đăk Pơ thì bị chia thành 3 nhóm. Ông chỉ biết nhóm của mình được đưa về nhà, còn hai nhóm còn lại anh không có thông tin gì.

Dù vậy, người phát ngôn tòa Thị chính Ratanakiri ông Ming Sineath tiếp tục khẳng định không có thông tin về việc giới chức địa phương này bắt người Thượng tỵ nạn.

Ông Chhay Thy, đại diện tổ chức bảo vệ nhân quyền Adhoc phụ trách tỉnh Ratanakiri cho rằng rất có thể một số người Thượng vẫn chưa được thả về, số khác có thể bị hành hạ, riêng người Jarai Campuchia vẫn tiếp tục mất tích. Ông Thy: "Theo thông tin của người Jarai Campuchia thì một số người Jarai Việt Nam là người dẫn đầu đã bị chính quyền của họ đánh đập và vẫn chưa được thả về".

Tính đến nay, đã có 45 trong số 81 người Thượng trốn sang Campuchia bị bắt giao cho Việt Nam và vẫn còn 13 người Thượng khác lẫn trốn trong rừng thuộc tỉnh Ratanakiri chờ được Cao ủy Liên Hiệp Quốc phụ trách người tỵ nạn cứu giúp.

Sơn Trung, tường trình từ Campuchia.
phóng viên RFA
Theo RFA

Máy bay do thám Mỹ bay trên Biển Đông

Mỹ đã điều máy bay do thám tối tân nhất của họ từ một căn cứ ở Philippines bay đến những điểm nóng trên Biển Đông, hãng tin AFP dẫn lời giới chức Philippines cho biết.

P-8 Poseidon là loại máy bay tuần tra tân tiến nhất của Mỹ

Máy bay P-8A Poseidon chở theo binh lính Philippines xuất phát từ một căn cứ không quân trước đây của Mỹ nằm cách thủ đô Manila khoảng 80km về phía bắc bay đến vùng biển có tranh chấp hôm 17/2, các quan chức Philippines cho biết.

“Mục đích của chuyến bay là tuần tra Biển Đông và đảm bảo tự do hàng hải,” Đại tá Restituto Padilla, phát ngôn nhân quân đội Philippines nói với báo giới.

‘Bay làm quen’

Còn ông Lued Lincuna, phát ngôn nhân hải quân Philippines nói rằng chuyến bay này là ‘chuyến bay làm quen’.

“Họ (phía Mỹ) chỉ cho chúng tôi thấy năng lực do thám của máy bay – điều mà chúng tôi không có,” ông Lincuna được AFP dẫn lời nói.

Thông cáo của Hải quân Mỹ cũng cho biết chuyến bay này là ‘nhằm tăng cường hiểu biết và giới thiệu tính năng’ của loại máy bay mà họ cho là máy bay do thám tầm xa và chống ngầm tân tiến nhất.

Loại máy bay Poseidon ‘bay êm hơn rất nhiều’ và đỡ mất công bảo trì hơn so với loại máy bay do thám đời cũ là P-3 Orion, thông cáo cho biết.

Máy bay Poseidon đã bay 180 giờ ở Philippines từ ngày 1 cho đến 21/2, theo thông cáo.

Ngoài ra thông cáo không nói gì thêm về các chuyến bay này ngoại trừ chuyến bay ngoài khơi Đảo Luzon trên Biển Đông.

Biển Đông hiện tại là một điểm nóng trong khu vực với các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam và Philippines.

Gần đây căng thẳng trên vùng biển này đã gia tăng đáng kể với việc Trung Quốc tìm cách tăng cường sự hiện diện trong khu vực.

Bắc Kinh đã tiến hành xây dựng cải tạo các đảo và các bãi san hô trong khu vực, triển khai thêm tàu tuần tra và đã giành lấy quyền kiểm soát một bãi cạn trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Trước tình hình đó, Philippines đã tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt quân sự và ngoại giao từ phía Hoa Kỳ, đồng minh lâu năm của họ.

Nước này cũng đã khiến Bắc Kinh nổi giận khi đề nghị một tòa án của Liên Hiệp Quốc phân xử tranh chấp giữa họ với Trung Quốc trên Biển Đông.

Theo BBC