Thời gian qua, một số người đã đồng hóa khái niệm dân chủ với việc áp dụng mô hình "dân chủ tự do" của phương Tây, thậm chí còn cho rằng, thực hiện đa đảng thì sẽ có dân chủ, chống được tham nhũng, giải quyết được các bất cập của xã hội (!). Từ năm 2007, Mạng lưới đoàn kết nhân dân Nam - Nam tiến hành nghiên cứu dự án Dân chủ hóa và quyền lực của nhân dân với sự tham gia của một số học giả tiến bộ đến từ nhiều nước cùng Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam để phân tích, đánh giá, và khuyến nghị về giải pháp đối với vấn đề đã đặt ra. Báo Nhân Dân giới thiệu tóm lược kết quả nghiên cứu và nội dung trao đổi của các tác giả để bạn đọc có cách nhìn đầy đủ hơn.
Công thức "dân chủ tự do" (thường gọi là "dân chủ quy trình" - procedural democracy) tập trung chủ yếu vào một số cách thức thực thi dân chủ. Tuy một số công cụ có thể hữu ích, song thực tiễn chính trị tại các nước cho thấy việc áp dụng công thức này đã và đang không thể bảo đảm được bản chất của dân chủ là "quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân". Tại không ít hội thảo quốc tế, khi được hỏi "liệu tại các nước áp dụng công thức trên quyền lực có thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không?" thì các đại biểu đều trả lời "không!", và nhận định được thống nhất là "quyền lực thực tế luôn thuộc về các tập đoàn lớn và tầng lớp giàu có!". Tại sao lại như vậy?
Nguyên nhân cơ bản nhất là sự chi phối của đồng tiền trong đời sống chính trị. Bầu cử "tự do" nhưng quá trình vận động bầu cử tốn kém dẫn đến thực tế là chỉ những ai giàu có hoặc được các tập đoàn tư bản lớn ủng hộ thì mới có khả năng trở thành ứng cử viên thật sự. Và do đó, quyền lựa chọn của nhân dân luôn bị giới hạn trong phạm vi các ứng cử viên của các nhóm thiểu số lớp trên. Hoạt động vận động hành lang hết sức tốn kém cũng là kênh để các tầng lớp giàu có tác động, chi phối chính sách. Thông qua các khoản tài trợ, các thế lực giàu có cũng sử dụng đồng tiền để can thiệp, chi phối không ít tổ chức dân sự để phục vụ lợi ích của họ. Hệ thống pháp lý phức tạp, và tinh vi cũng khiến cho người nghèo ít được bảo vệ, nhất là do không đủ tiền để thuê luật sư giỏi. Tự do báo chí gắn liền với tư nhân hóa báo chí, thực tế chỉ là tự do của chủ báo, của một số người giàu có sở hữu các phương tiện truyền thông. Vì vậy, sau hình thức "tự do" của báo chí, nhiều vấn đề bản chất của xã hội, lợi ích của cộng đồng luôn bị bỏ qua, báo chí vẫn là công cụ chi phối nhận thức chung nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Trên thực tế, về bản chất, chế độ đa đảng trong nền chính trị do đồng tiền chi phối luôn luôn là sự thống trị của một nhóm các tập đoàn quyền lực. Ralf Nader - nguyên ứng cử viên Tổng thống độc lập tại Mỹ, từng công nhận "chế độ đa đảng của Mỹ về thực chất là chế độ hai đảng, nhưng cuối cùng thì các tập đoàn tư bản thao túng cả hai". Tại một số nước khác, quyền lực được quay vòng trong một nhóm các gia đình quyền thế. Người dân có thể có một số tự do, nhưng trong giới hạn bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản; về hình thức thì mọi người có thể đều có quyền nhưng việc thực thi các quyền đó lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế, tài chính. Do đó, chỉ có tầng lớp giàu có mới thật sự có đầy đủ các quyền tự do. Kinh tế thị trường gắn với chính trị thị trường đã làm cho sức mạnh kinh tế kết hợp với sức mạnh chính trị tập trung vào các tập đoàn tư bản đầu sỏ. Ðó là lý do để người ta gọi đó là "dân chủ của các tập đoàn" (corporate democracy). Do vậy, tuy nhân dân lao động là bộ phận chiếm số đông trong xã hội nhưng có rất ít đại diện đích thực cho lợi ích của họ tại quốc hội. Ðiều này là một trong các căn nguyên lý giải tại sao khoảng cách giàu nghèo lại không ngừng gia tăng, ngay cả ở các nền kinh tế phát triển nhất. Ðó cũng là một lý do dẫn tới sự ra đời của phong trào "chiếm phố Uôn" - hành động của 99% số dân Mỹ chống lại 1% giàu có với các cuộc xuống đường phản đối bất công. Cũng vì thế mà ngày càng có nhiều cử tri tại các nước này bày tỏ thất vọng đối với các cuộc bầu cử đã không thể đem lại được sự thay đổi tình hình một cách thực chất.
Khi so sánh chế độ "một đảng" với "đa đảng", người ta mới chủ yếu đề cập đến khía cạnh số lượng mà chưa chú ý đến khía cạnh tính chất của đảng. Do đó, họ đã cào bằng các đảng chính trị, dù trên thực tế các đảng rất đa dạng, khác nhau cả về bản chất, về phương thức tổ chức và hoạt động, cả về năng lực và vị trí trong xã hội. Có đảng chỉ đại diện cho lợi ích một nhóm, một bộ phận thiểu số trong xã hội; có đảng hoạt động chủ yếu trên nghị trường, để vận động bầu cử và không ít đảng được tổ chức rất lỏng lẻo, theo hình thức "đánh trống ghi tên". Các đảng như vậy rốt cuộc chỉ là công cụ chính trị của các nhóm lợi ích khác nhau tham gia cuộc cạnh tranh quyền lực vì lợi ích. Tuy nhiên, dù là chế độ đa đảng nhưng tại mỗi thời điểm thì luôn chỉ có một đảng hay một nhóm đảng nắm quyền, vẫn luôn là sự thống trị của bộ phận thiểu số, thường là thiểu số giàu có, đối với toàn bộ xã hội. Vì vậy, các chế độ này không thể khắc phục được sự bất công, không thể bảo đảm được bản chất đích thực của dân chủ.
Các đảng nói trên không thể so sánh với các đảng không có lợi ích riêng, tôn chỉ duy nhất là phục vụ lợi ích của dân tộc và của nhân dân lao động; bám rễ trong nhân dân, hoạt động thường xuyên, trực tiếp từ cơ sở để giải quyết các vấn đề cụ thể trong đời sống hằng ngày của nhân dân; được tổ chức một cách chặt chẽ và để trở thành đảng viên của đảng đó, cá nhân phải có được sự tín nhiệm của quần chúng ngoài đảng và như vậy, chính nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng đảng. Cần lưu ý rằng, nhân dân lao động không chỉ là bộ phận chiếm số đông mà còn là bộ phận thiệt thòi nhất trong xã hội có giai cấp; khi lợi ích của nhân dân lao động được bảo đảm thì không có bộ phận nào bị gạt ra bên lề và do đó, lợi ích của toàn xã hội cũng sẽ được bảo đảm đầy đủ nhất.
Chỉ có đảng chân chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được trí tuệ tiêu biểu của xã hội, được tổ chức một cách dân chủ, được nhân dân tín nhiệm, mới có đầy đủ tư cách để lãnh đạo ổn định, lâu dài đối với toàn xã hội. Có như vậy thì mới có điều kiện để xây dựng một chế độ chính trị ổn định, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ðiều quan trọng là xây dựng được một đảng như thế và thường xuyên củng cố, tự đổi mới, chỉnh đốn để khắc phục được các hạn chế, khiếm khuyết để lãnh đạo xã hội, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Xét từ góc độ mục tiêu, xã hội loài người có thể được phân thành hai loại cơ bản: 1. "Xã hội lợi ích": Là xã hội mà trong đó, cạnh tranh, chiếm đoạt lợi ích riêng là động lực chủ yếu chi phối hành động của các thành viên. Trong các xã hội như vậy, sẽ hình thành các đảng chính trị để cạnh tranh quyền lực giữa các nhóm lợi ích khác nhau. Các xã hội này có xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, giá trị vật chất, khuyến khích hưởng thụ và cạnh tranh giữa người với người. Tuy nhiên, dù các công cụ dân chủ có được phát triển đến đâu thì các xã hội này vẫn không thể xóa bỏ được áp bức, bóc lột, bất công; quyền lực chủ yếu thuộc về và phục vụ cho lợi ích của thiểu số giàu có. Ngày nay, các hoạt động thể hiện lòng tham, cạnh tranh bằng mọi giá, chiếm đoạt cá nhân thái quá đang đẩy nhân loại tới vực thẳm khủng hoảng về kinh tế, xã hội, nhân văn và sinh thái. 2. "Xã hội giá trị": Là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, vì hạnh phúc bền vững của con người và nhân loại. Các xã hội này không bỏ qua lợi ích, nhưng không dừng lại ở lợi ích và trong đó, lợi ích cá nhân phù hợp, gắn với lợi ích của cộng đồng, xã hội. Các xã hội này đề cao các giá trị văn hóa, đạo đức, tính đoàn kết, tương trợ lẫn nhau. Việc xây dựng các "xã hội giá trị" không phải là tự phát mà là quá trình hướng đích lâu dài, do đó cần có sự lãnh đạo ổn định, liên tục của lực lượng chính trị dẫn dắt tiến trình đó. Xã hội XHCN là thí dụ tiêu biểu của "xã hội giá trị". Trước những khủng hoảng kinh tế - xã hội hiện nay, nhất là sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu xây dựng các "xã hội giá trị" đang ngày càng trở nên bức thiết đối với sự tồn tại, phát triển của nhân loại. Trên thực tế trong "xã hội lợi ích", tùy theo kết quả đấu tranh và phát triển xã hội, cũng có các nhân tố của "xã hội giá trị" ở các mức độ biểu hiện khác nhau; và "xã hội giá trị" cũng được xây dựng trên cơ sở, có chứa đựng các nhân tố của "xã hội lợi ích".
Về cơ bản, các tác giả tham gia nghiên cứu dự án Dân chủ hóa và quyền lực của nhân dân đều cho rằng, theo tư duy hệ thống, có ba mô hình cơ bản về tổ chức, quản lý cộng đồng, xã hội với tư cách là các hệ đa - trí tuệ, đa - văn hóa. Trong đó, mô hình "tập trung" và mô hình "phi tập trung" là đặc trưng của các xã hội có cạnh tranh về lợi ích. Mô hình "đồng thuận xã hội" được coi là mô hình tổ chức, quản lý ưu việt, được xây dựng trong một tập thể, cộng đồng, xã hội cùng hướng tới giá trị chung, đòi hỏi phải có một trung tâm làm nòng cốt trong việc phát huy dân chủ, tạo nên đồng thuận xã hội, chứ không phải là các lực lượng đối lập, đối kháng hay cạnh tranh với nhau để thống trị xã hội. Trung tâm này cần trung thành với các giá trị chung, tiêu biểu về trí tuệ, có đầy đủ năng lực để lãnh đạo, có các cơ chế và các mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với các bộ phận còn lại của xã hội để bảo đảm sự đồng thuận trong nhận thức và thống nhất trong hành động.
© TRẦN VĂN LINH
Nguồn:Báo Nhân Dân
Post Top Ad
Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013
Từ khóa tìm kiếm:
# Bình Luận - Quan Điểm
Share This
About
Việt Mỹ News
Bình Luận - Quan Điểm
Labels:
Bình Luận - Quan Điểm
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Post Bottom Ad
Author Details
VANEWS - Việt Mỹ News - Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả có thể gây ra những tranh luận đa chiều và trái chiều VANEWS - Việt Mỹ News mong nhận được ý kiến phản hồi và phản biện của độc giả


VANEWS VIDEO CHANNEL - TV

VANEWS VIDEO CHANNEL - TV
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét